Thứ Ba, 13 tháng 5, 2014

Chúng ta giống như cướp biển. Xấu hổ vì là người Trung Quốc


 Đa số người Việt gốc Hoa lần này hết sức kinh ngạc về hành động hung hăng, hiếu chiến của nhà cầm quyền Bắc Kinh, ở Chợ Lớn ai cũng đều phản đối kịch liệt. Ngay cả người dân Trung Quốc, Hong Kong, Đài Loan họ cũng không tin vào lời nói sai sự thật của bộ Ngoại Giao Trung Quốc, do họ không phải là những kẽ ngu khờ, mà không biết kiểm chứng lại các nguồn tin độc lập khác trên thế giới. Một người trí thức Trung Quốc luôn đi tiên phong phản đối đường chữ “U” đó là ông Lý Lệnh Hoa, chuyên viên nghiên cứu thuộc Trung tâm Thông tin Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc, trên blog bình luận của ông đã dấy lên làn sóng phản đối sôi nổi. 
 _ Trích trong trang web BaoMoi _

 Dư luận nhân dân Trung Quốc đã xuất hiện những tiếng nói hiểu biết, tôn trọng sự thật, ủng hộ lẽ phải, phê phán, không đồng tình với những luận điệu tuyên truyền bịa đặt, vu cáo của báo chí Trung Quốc.

 Sau mấy ngày im ắng, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tổ chức họp báo, đưa ra những thông tin bịa đặt, vu cáo, xuyên tạc về sự kiện họ đưa giàn khoan Hải dương 981 vào hoạt động sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

 Tân Hoa xã và báo chí chính thống Trung Quốc bắt đầu chiến dịch vu cáo Việt Nam “đưa tàu quân sự xâm nhập vùng biển của Trung Quốc quấy nhiễu, cản trở hoạt động tác nghiệp bình thường của doanh nghiệp Trung Quốc”.

 Họ cho đăng tải những thông tin thất thiệt với dụng ý kích động dư luận. Những luận điệu bịa đặt, xuyên tạc đó, đã gây nên phản ứng tiêu cực trong dư luận. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người Trung Quốc đều tin vào sự tuyên truyền của giới cầm quyền.Trung Quốc tự vẽ ra “Đường 9 đoạn”

 Ông Lý Lệnh Hoa, Chuyên viên nghiên cứu thuộc Trung tâm Thông tin Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc, một nhà nghiên cứu nổi tiếng về luật biển của Trung Quốc đã kịp thời lên tiếng tỏ rõ thái độ phản đối hành động của phía Trung Quốc.



 Trong bài báo công bố trên các trang mạng http://blog.163.comhttp://blog.sina.com.cn ngày 6/5, ông viết: “Hơn 4 giờ chiều hôm nay (6.5), phóng viên Thời báo Hoàn cầu (TBHC) gọi điện thoại tới, hỏi quan điểm của tôi đối với tình huống liên quan tới Việt Nam ở Tây Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam); nói: TBHC đã có bài viết về vụ việc, rồi đề cập cả đến tình hình các nước như Malaysia, Philippines, Indonesia ở Nam Hải (Biển Đông) thời gian gần đây.” Thẳng thắn nói với ông ta quan điểm của mình: Trung Quốc là nước đã ký Công ước biển LHQ (UNCLOS 1982), cần phải hành xử theo các điều 74, 83 của công ước, phải tôn trọng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các nước láng giềng. Những nội dung liên quan vấn đề này, tôi đã bày tỏ trong các bài viết của mình gần đây, mong đồng chí phóng viên TBHC tìm đọc”.

 Trong một bài viết nhan đề “Trung Quốc cần có chính sách thống nhất với các nước có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông” được đăng trước đó, ông Lý Lệnh Hoa đã vạch trần tính phi lý trong yêu sách về Biển Đông của chính phủ Trung Quốc.

 Ông viết: “Từ năm 1947, Trung Quốc tự ý vẽ ra một đường đứt đoạn trên bản đồ Biển Đông, gọi là “Đường 9 đoạn” hay “Đường hình chữ U”, rồi coi đó là “đường biên giới biển truyền thống”. Chính phủ ta (Trung Quốc) chưa bao giờ chính thức giải thích về hàm nghĩa pháp luật của cái đường này… Cần phải nói rõ một điều: vùng nước bên trong “Đường hình chữ U” chiếm tới 80% diện tích Biển Đông không thể nào là “vùng nước lịch sử” của nước ta (tức Trung Quốc) được. Cái “Đường hình chữ U” này không phải là biên giới biển của Trung Quốc.

 Quy tắc quốc tế cho thấy rõ, giống như biên giới trên đất liền, biên giới trên biển cũng phải là một đường thực tế, không thể là một cái đường ảo. Nếu Trung Quốc cứ kiên trì cái gọi là “Đường 9 đoạn” không có căn cứ pháp luật, không có kinh độ, vĩ độ cụ thể, sẽ không được các nước xung quanh Biển Đông và cộng đồng quốc tế chấp nhận. Trung Quốc cần tôn trọng lập trường của các quốc gia ven Biển Đông về thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý theo tinh thần của Công ước biển LHQ năm 1982”.

 Ông khẳng định: “Tiền đề của việc bảo vệ lợi ích quốc gia là phải tuân thủ quy tắc quốc tế. Trong vấn đề giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông, Trung Quốc cần phải có lý tính, cần phải nghĩ đến lâu dài”.

 Khi mà trên báo chí và các diễn đàn mạng xuất hiện những luận điệu thù địch chống Việt Nam, hô hào, kích động gây chiến tranh trên Biển Đông, Lý Lệnh Hoa đã viết bài “Hai nước Trung-Việt cần tiếp tục hữu hảo” đăng ngày 8.5.

 Ông viết: “Trang 11 báo “Tin tức tham khảo” ngày 8.5 có đăng hai bài báo “Trung-Việt cùng nhau ôn lại tình hữu nghị chiến đấu Điện Biên Phủ” và “Đến Điện Biên Phủ” kỷ niệm 60 năm Chiến thắng ĐBP và ôn lại tình hữu nghị chiến đấu năm xưa giữa chính phủ và nhân dân hai nước Trung-Việt. Các bài báo đó viết rất hay, chỉ rõ mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam được kế thừa; hai nước Trung-Việt núi liền núi, sông liền sông… là anh em, quan hệ hữu nghị Trung-Việt phải cần được tiếp tục”.

  Ông chỉ rõ: “Cả Trung Quốc và Việt Nam đều cần phát triển kinh tế. Biển Đông cần phải giữ hòa bình và ổn định. Hiện nay, mặc dù giữa hai nước đang tồn tại bất đồng nghiêm trọng và xung đột về chủ quyền biển đảo và hoạch định ranh giới trên biển, nhưng hai nước là láng giềng, đều là những quốc gia ký DOC 2002 và Công ước biển LHQ năm 1982 (UNCLOS).

  Chỉ cần hai nước bình tỉnh, tỉnh táo xem xét, với thái độ hiểu biết, nhân nhượng, cùng có lợi, vì hạnh phúc của nhân dân, thông qua đàm phán hữu nghị, tích cực trao đổi và giao lưu thì mọi tranh chấp và bất đồng đều có thể giải quyết được”.

* Không thấy lọt tai :

 Trên các trang diễn đàn mạng như Sohu, Sina cũng đã xuất hiện nhiều ý kiến của người dân Trung Quốc thể hiện lòng yêu chuộng hòa bình và phê phán thái độ của những phần tử cực đoan trong giới cầm quyền.

 Bạn đọc có nick Henshehengou comment trên blog của ông Lý Lệnh Hoa: “Trung Quốc phải từ bỏ ngay thứ quan niệm “từ cổ xưa đến nay”, nếu không sẽ chẳng thể giải quyết được những tranh chấp với các nước láng giềng”.

 Nhiều bạn đọc bày tỏ trên diễn đàn Sohu: “Tại sao phải suốt ngày tranh chấp, yên ổn hòa bình với nhau không được sao”, “Đại diện chính quyền của hai quốc gia có thể ngồi lại và cùng thảo luận. Chúng ta nên tuân thủ luật pháp quốc tế”, “Phải chăng chính quyền ta đang nghĩ rằng chỉ có lợi ích vĩnh viễn không có bạn bè vĩnh viễn. Dùng sức mạnh của mình thay cho tôn trọng các quốc gia khác là một điều không nên”.

 Nhiều ý kiến bày tỏ nghi ngờ, không tin vào luận điệu tuyên truyền của chính quyền. Bạn đọc có nick Kuangyelangren viết trên mạng Sohu: “Sao tôi xem chương trình “Tin tức 360” thấy tàu Hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng và tông húc vào tàu Việt Nam? Lại còn đưa mấy chục tàu ra để bảo vệ? Rốt cuộc thông tin nào là đúng vậy?”.

 Bạn Xianrenruyuan viết: “Chao ôi, người phát ngôn Bộ Ngoại giao cố ý làm ra vẻ ta vô tội. Thực ra tàu Việt Nam bị húc đến thảm. Phía ta toàn là tàu chiến hoán cải thành hải giám, sao có thể bó tay chịu húc? Vậy mà toàn thấy đưa tin “bị khiêu khích, bị bắt nạt”. Người Trung Quốc bình thường chỉ cần có chút đầu óc khẳng định đều không thể thấy lọt tai”.

 Bạn đọc Baixue ở Thiên Tân viết: “Cảm giác của tôi : Trung-Việt đối đầu lần này là do phía ta (Trung Quốc) gây ra. CNOOC không khoan dầu ở đó thì sập tiệm hay sao? Gần đây Việt Nam không hề chơi xấu Trung Quốc, mấy nước khác đang muốn lôi kéo Việt Nam. Nếu lần này xử lý không tốt rất có thể sẽ đẩy Việt Nam xa lánh… Nếu dư luận thế giới đều không ủng hộ Trung Quốc thì tình thế ngoại giao của Trung Quốc trở nên gay go”.

 Bạn đọc Jiubannongju ở Tứ Xuyên viết: “Chúng ta đang giống như cướp biển. Xấu hổ vì là người Trung Quốc”, “Trong khi bạo động trong nước đang khiến dân chúng lo lắng, chính quyền lại đi gây hấn với quốc gia khác”.
 
 * Ảnh du học sinh Trung Quốc tại Nhật :
 

  * Ảnh một bạn gái Trung Quốc với tấm bảng viết : " Trung Quốc dã tâm đen tối ...
Không được xâm chiếm đất đai Việt Nam "



 Cộng đồng người Việt cùng dân chúng Đài Loan, cũng đã rầm rộ biểu tình phản đối TQ chiều chủ nhật 11/5/2014, tại Đài Bắc: Nguồn ảnh: Fb Thảo Vân
 

 





Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

Bai Meichu: chỉ là một nét vẻ tầm thường gây tai họa lớn




Nguồn gốc đường lưỡi bò chữ U từ đâu ra
                                                                  - Trích dẫn bài viết trên báo Đất Việt -

 Nước ta và các nước Asian, kể cả Đài Loan, hiện đang đối phó với yêu sách phi lý của Trung Quốc, họ cho rằng cái đường 9 nét đứt đoạn và không rõ tọa độ ấy mặc nhiên “liếm” tới gần 80% của hơn 3,9 triệu km2 biển Đông, là chủ quyền theo địa lý tự nhiên, là lợi ích cốt lỏi của họ.

 Yêu sách tham lam và phi lý ấy, hóa ra không dựa trên bất cứ nghiên cứu khoa học nào (chưa nói tới giá trị pháp lý, giá trị khoa học hay lịch sử của nghiên cứu ấy) mà bắt nguồn từ một sáng tác cá nhân. “Đường lưỡi bò” trên biển Đông được Bai Meichu, một viên chức Trung Hoa Dân quốc chính thức vẽ vào tháng 12.1947, sau đó được một NXB tư nhân ấn hành.

  Tìm cách lập luận cho nét vẽ này, ngay học giả vốn thiên kiến như GS Peter Kien-Hong Yu của ĐH Ming Chuan cũng phải đặt giả thiết: Chưa rõ liệu Bai có đủ kiến thức về luật hàng hải quốc tế trong thời điểm ông vẽ hay không? Có nhiều khả năng là ông chủ yếu bị thôi thúc bởi bản năng sở hữu sơ khai. Những lý do đầy bản năng và mù mờ. Theo cách lý giải của Peter Kien-Hong Yu, có một điều hiển nhiên rằng, Bai đã không tham chiếu tới bất cứ tài nguyên động thực vật nào trong khu vực đường chữ U.

 Khi múa bút, Bai với trí tưởng tượng phong phú nhất của mình, có lẽ cũng không thể ngờ được rằng, ông đã gây ra một mối bất đồng, hơn thế một nguy cơ mất ổn định sâu sắc đến thế cho cả thế giới bởi biển Đông hôm nay là con đường hàng hải nhộn nhịp và quan trọng bậc nhất thế giới. Để sinh động hóa cho nét vẽ của Bai, sau này Trung Quốc lại dựa vào một khái niệm không được ghi trong Công ước Luật biển của Liên hợp quốc năm 1982 : “Vùng nước lịch sử”.

 Mới đây, bản thân Lý Lệnh Hoa, một học giả cao niên và uy tín người Trung Quốc cũng đã thẳng thắn thừa nhận tại một cuộc hội thảo : “Đường 9 đoạn trên Nam Hải là một đường hư ảo. Tiền nhân của chúng ta vạch ra Đường 9 đoạn không hề có kinh độ hay vĩ độ cụ thể, cũng chẳng có căn cứ pháp luật...”.

 Mỗi cá nhân có quyền tự do tưởng tượng, tự do mơ ước, tự do phóng bút… song một thực thể nhà nước không thể yêu sách dựa vào trí tưởng tượng lãng mạn.

 Sự thực, Trung Quốc không hề lãng mạn như thế. Mà là cả một mưu đồ nhằm biến biển Đông thành “chiếc ao Trung Hoa” - thuật ngữ của các học giả quốc tế nghiên cứu về biển Đông. Bước đi cụ thể gần đây nhất của mưu đồ ấy, Tổng công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC) mời thầu quốc tế thăm dò khai thác 9 lô dầu khí trên biển Đông nằm sâu trong phạm vi 200 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Dĩ nhiên, vẫn cố tình làm vậy vì dẫu có mù mờ thì “đường lưỡi bò” vẫn bao trùm 9 vị trí này.

 Động thái của Trung Quốc nhắm tới việc biến khu vực không tranh chấp thành có tranh chấp, để cuối cùng họ sẽ đưa ra giải pháp gác tranh chấp, cùng khai thác”. Chính sách “gác tranh chấp, cùng khai thác” được ông Đặng Tiểu Bình đưa ra lần đầu tại Tokyo tháng 10.1982. Đây là một phương án được Trung Quốc đưa ra với quan điểm cùng hợp tác khai thác chung khu vực biển Đông. Về mặt hình thức, đề nghị này dường như là hợp lý, thực tế nó làm cho dư luận dễ bị lầm tưởng là phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế và sự hòa bình, hữu nghị của Trung Quốc…

 Từ một nét vẽ tầm thường chẳng có mục đích của một viên chức không có tiếng tăm Trung Hoa Dân Quốc mà ngày nay đã gây nên tai họa lớn, đẩy các nước trong khu vực phải chạy đua vũ trang, cả thế giới chẳng nước nào công nhận cái đường lưỡi bò phi lý ấy, hiện Trung Quốc lại còn đòi cả chủ quyền đảo Senkaku của Nhật Bản, một số vùng đất ở biên giới Ấn Độ, lôi kéo cả người khổng lồ Mỹ vào cuộc, họ đang đi những bước đi vô cùng nguy hiểm, nhiều học giả Trung Quốc đã cảnh báo như vậy







Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2014

Kỹ niệm chiến thắng 30 - 04 -1975

  Mặc dù bọn mình chưa được sinh ra đời nhưng các bạn thử hình dung giai đoạn lịch sử từ năm 1954 đến 1975, qua bảng chi tiết các lực lượng quân sự trong nước và nước ngoài cùng tham chiến tại Việt Nam, mới thấy sự khốc liệt của nó, thật kinh khủng giống như một trận thế chiến. Vậy mới thấy ý nghĩa của chiến thắng mùa xuân năm 1975 của quân đội nhân dân Việt Nam, ( theo tài liệu của một sĩ quan phía quân đội nước ta, còn số liệu của các trang web nước ngoài thì có khác hơn, tùy theo thống kê của mỗi nước).

* LỰC LƯỢNG QUÂN ĐỘI HOA KỲ THAM CHIẾN Ở VIỆT NAM

  LỤC QUÂN

- Lực lượng Dã chiến I (I.FFV - I Field Force Vietnam), gồm sư đoàn kỵ binh số 1, các sư đoàn bộ binh số 4 và 25, sư đoàn không vận số 101, lữ đoàn không vận số 173, đơn vị pháo binh số 41 và 52.
Thời gian hoạt động ở Việt Nam : 11-1965 đến 4-1971.

- Lực lượng Dã chiến II (II.FFV - II Field Force Vietnam), gồm sư đoàn kỵ binh số 1, các sư đoàn bộ binh số 1, 4, 9, 25, sư đoàn không vận số 101, các lữ đoàn bộ binh số 196 và 199, lữ đoàn không vận số 173, lữ đoàn dù số 3 thuộc sư đoàn không vận số 82, đơn vị pháo binh số 23 và 54.
Thời gian hoạt động ở Việt Nam : 3-1966 đến 5-1971.
- Quân đoàn 24 (XXIV Corps), gồm sư đoàn kỵ binh số 1, sư đoàn bộ binh số 23, sư đoàn không vận số 101, đơn vị pháo binh số 108 và nhiều đơn vị độc lập khác.
Thời gian hoạt động ở Việt Nam : 2-1968 đến 6-1971.
- Lực lượng đặc biệt.

  Các đơn vị của Lục quân :
- Sư đoàn kị binh [không vận] số 1 First Team (9/65 - 6/72).
- Sư đoàn bộ binh số 1 Big Red One (10/65 - 4/70).
- Sư đoàn bộ binh số 4 Ivy Division (9/66 - 12/70).
- Sư đoàn bộ binh số 9 Old Reliables (12/66 - 10/70).
- Sư đoàn bộ binh số 23 Americal (9/67 - 11/71).
- Sư đoàn bộ binh số 25 Tropic Lighting (12/65 - 4/71).
- Sư đoàn không vận số 101 Screaming Eagles (7/65 - 3/72).
- Sư đoàn bộ binh cơ giới số 5 Red Diamon (2/68 - 8/71).
- Lữ đoàn dù số 173 Sky Soldier (5/65 - 8/71).
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 11 (12/67 - 10/71) .
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 196 (8/66 - 6/72) .
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 198 (10/67 - 11/71).
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 199 Redcatcher (12/66 - 10/70).
- Lữ đoàn không vận số 3 (sư đoàn không vận số 82 All American) (2-68 - 12/69).
- Trung đoàn kị binh thiết giáp số 11 Black Horse (8/66 - 3/71).
- Lữ đoàn không quân [trực thăng] số 1 (5/66 - 3/73).
- Đơn vị pháo binh số 23 Steel On Target gồm 13 tiểu đoàn pháo (10/65 - 1/72).
- Đơn vị pháo binh số 41 gồm 10 tiểu đoàn pháo (4/67 - 10/69).
- Đơn vị pháo binh số 52 Big Guns Are Ready gồm 9 tiểu đoàn pháo (6/66 - 6/71).
- Đơn vị pháo binh số 54 Lanyards of Liberty gồm 7 tiểu đoàn pháo (10/66 - 11/69).
- Đơn vị pháo binh số 108 Deeds Above Words gồm 7 tiểu đoàn pháo (10/67 – 11/71).
- Đơn vị pháo binh phòng không số 97 Always On Top gồm 2 tiểu đoàn tên lửa đất đối không Hawk (9/65 - 10/68).
- Lữ đoàn công binh số 18 (8/65 - 7/72).
- Lữ đoàn công binh số 20 (3/66 - 4/72).
- Lữ đoàn quân cảnh số 18 (9/66 - 3/73).
- Trung đoàn đặc nhiệm đường không số 5 (lính Mũ Nồi Xanh - Green Beret).

  Vào thời điểm cao nhất tháng 4-1969, lục quân Mỹ đạt quân số 363.000 người. Trang bị gồm có :
 - Pháo binh : 84 tiểu đoàn với khoảng 1.500 khẩu pháo các loại (chủ yếu là pháo 105mm, 155mm trở lên).
 - Xe tăng thiết giáp : 24 tiểu đoàn với khoảng 2.900 xe tăng, xe bọc thép các loại.

  HẢI QUÂN VÀ THỦY QUÂN LỤC CHIẾN

 - Hạm đội 7 Thái Bình Dương (7th Fleet). Trong chiến đấu cũng từng được tăng cường thêm một số tàu chiến của Hạm đội 5.
Thời gian hoạt động ở Việt Nam : 1964-1973.

 - Bộ tư lệnh lực lượng thuỷ quân lục chiến số 3 (III. MAF - III Marine Amphibious Force) gồm sư đoàn thủy quân lục chiến số 1 và 3, hai trung đoàn tàu đổ bộ, không đoàn hải quân 1, Quân đoàn 24.
Thời gian hoạt động ở Việt Nam : 5-1965 đến 3-1970.
 - Lực lượng cơ động đường sông.

  Các đơn vị chiến đấu của Hải quân và Thủy quân lục chiến :
 - Hạm đội 7.
 - Sư đoàn thủy quân lục chiến số 1 The Old Breed (8/65 - 4/71).
 - Sư đoàn thủy quân lục chiến số 3 Fighting Third (3/65 - 11/69).

 Các đơn vị chiến đấu của hải quân đường sông :
 - Lực lượng đặc nhiệm 115 (Task Force 115).
 - Lực lượng đặc nhiệm 116 (Task Force 116).
 - Lực lượng đặc nhiệm 117 (Task Force 117).

  Vào thời điểm cao nhất tháng 4-1969, hải quân Mỹ đạt quân số 36.000 người và lính thủy đánh bộ 81.800 người, lực lượng phòng vệ bờ biển 400 người. Trang bị khoảng 267 tàu hải quân các loại.
  Lực lượng tác chiến của Hạm đội 7 Mỹ đánh phá miền Bắc Việt Nam thường xuyên có 2-3 tàu sân bay, 15-30 tàu chiến gồm tàu chống ngầm, tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu ngầm. Riêng trong chiến dịch Linebecker-2 tháng 12-1972 có 6 tàu sân bay tham gia.

  KHÔNG QUÂN

 - Bộ Tư lệnh Không quân chiến lược (SAC - Strategic Air Command) (65-73).
 - Bộ Tư lệnh Không quân chiến thuật (TAC - Tactical Air command) (62-73).
 - Bộ Tư lệnh Vận tải hàng không quân sự (MAC - Military Airlift Command).
 - Tập đoàn quân Không quân số 7 (7th Air Force) gồm các không đoàn tiêm kích và tiêm kích bom số 3, số 12, 35, 366, 31, 37; sư đoàn không quân 834 vận tải chiến thuật, 1 không đoàn trinh sát, 2 không đoàn tác chiến đặc biệt và một số đơn vị yểm trợ.
Thời gian hoạt động ở Việt Nam : 4-1966 đến 1-1973.

 - Sư đoàn không quân số 2 .
 - Sư đoàn không quân số 315.
 - Sư đoàn không quân số 83.
 - Sư đoàn không quân vận tải số 834 .

  Vào thời điểm cao nhất tháng 4-1969, Không quân Mỹ đạt quân số 61.400 người.
  Trang bị : 4.050 máy bay trong đó có 768 máy bay chiến đấu và 2.668 máy bay trực thăng.
  Riêng chiến dịch tập kích đường không Linebecker-2 tháng 12-1972 đã huy động 193 máy bay ném bom chiến lược B-52 và 1.077 máy bay tiêm kích, cường kích chiến thuật.

  Mỹ đã huy động vào thời điểm cao nhất 68% lục quân, 40% hải quân, 32% không quân chiến thuật, 50% không quân chiến lược, 45 % pháo binh. Có 3.525.000 lượt quân đã sang tham chiến tại Việt Nam. Trong thời gian chiến tranh, Mỹ đã động viên 8 sư đoàn, 2 lữ đoàn hậu bị, đồng thời huy động 5.000.000 lao động sản xuất cho quốc phòng phục vụ cuộc chiến tranh này.

 * LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ CÁC NƯỚC ĐỒNG MINH CỦA MỸ THAM CHIẾN Ở VIỆT NAM

   HÀN QUỐC

 - Sư đoàn Thủ đô (sư đoàn Mãnh Hổ) (9/65 - 3/73).
 - Sư đoàn bộ binh số 9 (sư đoàn Bạch Mã) (9/66 - 3/73).
 - Lữ đoàn lính thủy đánh bộ số 2 (lữ đoàn Thanh Long) (10/65 - 2/72).
 - Đơn vị Chim Bồ Câu.
 - Một số tiểu đoàn, đại đội binh chủng hỗ trợ (thiết giáp, công binh, pháo binh, quân cảnh…).
 Tổng quân số lúc cao nhất : 50.000 người.

  THÁI LAN

  Lực lượng trên chiến trường Việt Nam gồm :
 - Sư đoàn bộ binh Hắc Báo (7/68 - 12/72).
 - Trung đoàn tình nguyện Hổ Mang (9/67 - 8/68).
 - Một số tiểu đoàn, đại đội binh chủng hỗ trợ.
   Tổng quân số : 13.000 người.
   Lực lượng trên chiến trường Lào thường xuyên có khoảng 10-20 tiểu đoàn bộ binh và một số đơn vị binh chủng.

  AUSTRALIA

 - Trung đoàn bộ binh Hoàng Gia (5/65 - 12/72).
 - 1 tàu khu trục và 1 biên đội máy bay.
 - Một số đơn vị binh chủng hỗ trợ.
  Tổng quân số : 7.000 người.

  PHILLIPINES

Có 1 tiểu đoàn quân báo, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh và bộ phận quân y (9/66 - 12/69).
Tổng quân số : 2.000 người.

  NEW ZEALAND

 Có 2 đại đội bộ binh và 1 đại đội pháo binh (7/65 - 12/71).
 Tổng quân số : 600 người.

 ĐÀI LOAN

Có 29 cố vấn quân sự. Một số trực tiếp chiến đấu với đặc công nước của QĐNDVN hoặc tham gia các chiến dịch biệt kích đường biển của VNCH vào miền Bắc Việt Nam.

* LỰC LƯỢNG QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA TÍNH ĐẾN NĂM 1975

  BỘ BINH

  Có 13 sư đoàn bộ binh, tổ chức thành 4 quân đoàn - quân khu và một số đơn vị độc lập:
  Quân đoàn 1 - Quân khu 1 gồm :
- Sư đoàn bộ binh 1 : trung đoàn bộ binh 1, 3, 51, 54 và thiết đoàn 7.
- Sư đoàn bộ binh 2 : trung đoàn bộ binh 4, 5, 6 và thiết đoàn 4.
- Sư đoàn bộ binh 3 : trung đoàn bộ binh 2, 56, 57 và thiết đoàn 11.
- Lữ đoàn kỵ binh 1.

 Quân đoàn 2 - Quân khu 2 gồm :
- Sư đoàn bộ binh 22 : trung đoàn bộ binh 40, 41, 42, 47 và thiết đoàn 14.
- Sư đoàn bộ binh 23 : trung đoàn bộ binh 44, 45, 53 và thiết đoàn 3.
- Lữ đoàn kỵ binh 2.

 Quân đoàn 3 - Quân khu 3 gồm :
- Sư đoàn bộ binh 18 : trung đoàn bộ binh 43, 48, 52 và thiết đoàn 5.
- Sư đoàn bộ binh 21 : trung đoàn bộ binh 31, 32, 33 và thiết đoàn 9.
- Sư đoàn bộ binh 25 : trung đoàn bộ binh 46, 49, 50 và thiết đoàn 10.
- Lữ đoàn kỵ binh 3.

 Quân đoàn 4 - Quân khu 4 gồm :
- Sư đoàn bộ binh 5 : trung đoàn bộ binh 7, 8, 9 và thiết đoàn 1.
- Sư đoàn bộ binh 7 : trung đoàn bộ binh 10, 11, 12 và thiết đoàn 6.
- Sư đoàn bộ binh 9 : trung đoàn bộ binh 14, 15, 19 và thiết đoàn 2.
- Lữ đoàn kỵ binh 4.

 Các đơn vị bộ binh độc lập khác :
- Sư đoàn Nhảy dù (thuộc lực lượng tổng trừ bị) : lữ đoàn dù 1, 2, 3, 4.
- Sư đoàn Thủy quân lục chiến (thuộc lực lượng tổng trừ bị) : lữ đoàn thủy quân lục chiến 147, 258, 369, 468.
- Sư đoàn biệt động quân : gồm 3 liên đoàn biệt động quân. Được thành lập cuối tháng 4-1975.
- Liên đoàn 81 biệt kích dù.
Lực lượng biệt động quân có 18 liên đoàn : 4, 5, 6, 7, 8, 11, 12, 14, 15, 21, 22, 23, 24, 25, 31, 32, 33, 41.
Lực lượng địa phương quân có khoảng gần 400 tiểu đoàn bảo an. Trong đó một số được tổ chức thành các liên đoàn bảo an (tương đương trung đoàn).

 KHÔNG QUÂN

  Có 6 sư đoàn :
- Sư đoàn không quân số 1 :
+ Không đoàn 41 gồm 2 phi đoàn quan sát (O-1, O-2, U-17), 1 phi đoàn vận tải (C-7A), 1 phi đội trinh sát (EC-47D) và 1 phi đội yểm trợ mặt đất (AC-119K).
+ Không đoàn 51 gồm 5 phi đoàn trực thăng vũ trang (UH-1H) và 1 phi đoàn trực thăng vận tải (CH-47A).
+ Không đoàn 61 gồm 3 phi đoàn cường kích (A-37B) và 1 phi đoàn tiêm kích (F-5A/-B).

- Sư đoàn không quân số 2 :
+ Không đoàn 62 gồm 1 phi đoàn quan sát (O-1, U-17), 2 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H), 1 phi đoàn yểm trợ mặt đất (AC-47D).
+ Không đoàn 92 gồm 3 phi đoàn cường kích (A-37B), 1 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).

- Sư đoàn không quân số 3 :
+ Không đoàn 23 gồm 2 phi đoàn quan sát (O-1, U-17) và 2 phi đoàn cường kích (A-1H).
+ Không đoàn 43 gồm 1 phi đoàn trực thăng vận tải (CH-47A), 4 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).
+ Không đoàn 63 gồm 4 phi đoàn tiêm kích (F-5A/-B/E, RF-5A).

- Sư đoàn không quân số 4 :
+ Không đoàn 64 gồm 1 phi đoàn trực thăng vận tải (CH-47A), 2 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).
+ Không đoàn 74 gồm 2 phi đoàn trinh sát (O-1, U-17) và 3 phi đoàn cường kích (A-37B).
+ Không đoàn 84 gồm 3 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).

 - Sư đoàn không quân số 5 :
+ Không đoàn 33 gồm 2 phi đoàn trinh sát (EC-47D, U-6A), 2 phi đoàn vận tải (C-7A), 1 phi đoàn làm nhiệm vụ đặc biệt (VC-47B, U-17) và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).
+ Không đoàn 53 gồm 2 phi đoàn yểm trợ mặt đất (AC-119K) và 2 phi đoàn vận tải (C-130A).

- Sư đoàn không quân số 6 :
+ Không đoàn 72 gồm 1 phi đoàn quan sát (O-1, O-2, U-17), 1 phi đoàn cường kích (A-1H), 2 phi đoàn và 2 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).
+ Không đoàn 82 gồm 1 phi đoàn cường kích (A-37B), 1 phi đoàn trực thăng vận tải (CH-47A), 1 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).

- Trung tâm huấn luyện không quân : gồm 1 phi đoàn huấn luyện trang bị U-17A và 1 phi đoàn huấn luyện trang bị T-37A, trực thăng UH-1H.
 Về trang bị, không quân VNCH có khoảng 1.800 máy bay các loại, trong đó có khoảng 300 máy bay chiến đấu A-1, A-37, F-5 và 600 trực thăng vũ trang UH-1.

 PHÁO BINH

 - Có 66 tiểu đoàn và trên 160 trung đội pháo binh độc lập với khoảng 1.500 khẩu pháo 105mm, 155mm và một số pháo tự hành 175mm.
 - 7 tiểu đoàn pháo cao xạ và súng máy cao xạ.

  XE TĂNG THIẾT GIÁP

 Có 4 lữ đoàn kỵ binh, 18 thiết đoàn (tương đương trung đoàn thiết giáp) và 57 chi đội (tương đương đại đội) xe tăng thiết giáp với khoảng 600 xe tăng M-48, xe tăng nhẹ M-41 và 1.400 thiết giáp M-113.

  HẢI QUÂN

 Tổ chức hải quân VNCH gồm :
- 5 vùng Duyên hải :
+ Vùng 1 gồm 5 duyên đoàn, 3 giang đoàn và 1 hải đội duyên phòng.
+ Vùng 2 gồm 8 duyên đoàn và 1 hải đội duyên phòng.
+ Vùng 3 gồm 3 duyên đoàn và 1 hải đội duyên phòng.
+ Vùng 4 gồm 4 duyên đoàn và 1 hải đội duyên phòng.
+ Vùng 5 gồm 2 giang đoàn, 2 duyên đoàn và 1 hải đội duyên phòng.

- 2 vùng Sông ngòi :
+ Vùng 3 gồm 4 giang đoàn.
+ Vùng 4 gồm 7 giang đoàn.
- Hành quân lưu động sông gồm :
+ Vùng 3 Sông ngòi.
+ Vùng 4 Sông ngòi.

 Ngoài ra còn có các lực lượng tăng viện thuộc :
+ Lực lượng đặc nhiệm 211 Thủy bộ : gồm 3 liên đoàn với 6 giang đoàn.
+ Lực lượng đặc nhiệm 212 Tuần thám : gồm 6 liên đoàn với 15 giang đoàn.
+ Lực lượng đặc nhiệm 214 Trung ương : gồm liên đoàn người nhái và 3 liên đoàn với 10 giang đoàn.
+ Lực lượng đặc nhiệm 99 gồm 3 giang đoàn.
- Hành quân lưu động biển gồm lực lượng đặc nhiệm 213 Duyên phòng.

- Hạm đội gồm :
+ Hải đội 1 Tuần duyên.
+ Hải đội 2 Chuyển vận.
+ Hải đội 3 Tuần dương.
- Liên đoàn Tuần giang : gồm 24 đại đội tuần giang .
- Lực lượng Hải tuần làm nhiệm vụ đưa biệt kích xâm nhập miền Bắc.
- Hệ thống các căn cứ, công xưởng, đài kiểm báo....
 Hải quân VNCH được trang bị khoảng 1.500 tàu xuồng các loại, trong đó có khoảng 700 tàu chiến trên sông và trên biển.

 Tổng số quân của VNCH khoảng 1,35 triệu người, trong đó quân chính quy 495.000 người, quân địa phương và cảnh sát 475.000 người, phòng vệ dân sự 381.000 người. Nhưng thực tế có khoảng 200.000 là "lính ma".
 Theo đánh giá về trang bị và quân số, VNCH có lục quân "đứng thứ 4 thế giới", không quân "đứng thứ 3 thế giới", hải quân "đứng thứ 9 thế giới".

* LỰC LƯỢNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TÍNH ĐẾN NĂM 1975

 BỘ BINH

 Có 23 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 24 trung đoàn và trên 100 tiểu đoàn bộ binh, được tổ chức thành 5 quân đoàn chủ lực và một số đơn vị độc lập :

 Quân đoàn 1 - binh đoàn Quyết Thắng gồm :
- Sư đoàn bộ binh 308 Quân Tiên Phong : trung đoàn bộ binh 36, 88, 102 và trung đoàn pháo binh 58.
- Sư đoàn bộ binh 312 Chiến Thắng : trung đoàn bộ binh 141, 165, 209 và trung đoàn pháo binh 186.
- Sư đoàn bộ binh 320B Đồng Bằng : trung đoàn bộ binh 27, 48, 64 và trung đoàn pháo binh 54.
- Lữ đoàn bộ binh cơ giới 202.
- Lữ đoàn pháo binh 45 Tất Thắng.
- Sư đoàn phòng không 367.
- Lữ đoàn công binh 299, trung đoàn thông tin 240.

  Quân đoàn 2 - binh đoàn Hương Giang gồm :
- Sư đoàn bộ binh 3 Sao Vàng QK5 : trung đoàn bộ binh 12, 14, 141 và trung đoàn pháo binh 68 .
- Sư đoàn bộ binh 304 Vinh Quang : trung đoàn bộ binh 9, 24, 66 và trung đoàn pháo binh 68.
- Sư đoàn bộ binh 324 Ngự Bình : trung đoàn bộ binh 1, 2, 3 và trung đoàn pháo binh 178.
- Sư đoàn bộ binh 325 : trung đoàn bộ binh 18, 46, 101 và trung đoàn pháo binh 84.
- Lữ đoàn xe tăng thiết giáp 203.
- Lữ đoàn pháo binh 164.
- Sư đoàn phòng không 673.
- Lữ đoàn công binh 219, trung đoàn thông tin 463.

  Quân đoàn 3 - binh đoàn Tây Nguyên gồm :
- Sư đoàn bộ binh 10 : trung đoàn bộ binh 24, 28, 66 và trung đoàn pháo binh 4.
- Sư đoàn bộ binh 316 : trung đoàn bộ binh 148, 149, 174 và trung đoàn pháo binh 187.
- Sư đoàn 320A Đồng Bằng : trung đoàn bộ binh 9, 48, 64 và trung đoàn pháo binh 54.
- Trung đoàn xe tăng thiết giáp 273.
- Lữ đoàn pháo binh 40.
- Trung đoàn pháo binh 675.
- Trung đoàn đặc công 198.
- Trung đoàn phòng không 232.
- Trung đoàn phòng không 234.
- Trung đoàn phòng không 593.
- Lữ đoàn công binh 7, trung đoàn thông tin 29.

  Quân đoàn 4 - binh đoàn Cửu Long gồm :
- Sư đoàn bộ binh 6 QK7 : trung đoàn bộ binh 4, 33.
- Sư đoàn bộ binh 7 : trung đoàn bộ binh 12, 14, 209 và trung đoàn pháo binh 210.
- Sư đoàn bộ binh 341 Sông Lam : trung đoàn bộ binh 266, 270, 273 và trung đoàn pháo binh 55.
- Đoàn xe tăng thiết giáp 26.
- Trung đoàn đặc công 429.
- Lữ đoàn pháo binh 24.
- Lữ đoàn phòng không 71.
- Trung đoàn công binh 25, trung đoàn thông tin 26.

  Đoàn 232 là đơn vị lâm thời, tương đương quân đoàn, gồm :
- Sư đoàn bộ binh 3 Phước Long B2 : trung đoàn bộ binh 201, 205, 271 và trung đoàn pháo binh 262.
- Sư đoàn bộ binh 5 QK8 : trung đoàn bộ binh 1, 2, 3 và trung đoàn pháo binh 42.
- Sư đoàn bộ binh 9 QĐ4 : trung đoàn bộ binh 1, 2, 3 và trung đoàn pháo binh 28.
- 4 trung đoàn bộ binh độc lập.
- 1 trung đoàn và 1 tiểu đoàn phòng không.
- 2 tiểu đoàn xe tăng.

 Đoàn 559 - binh đoàn Trường Sơn là 1 đơn vị đặc biệt, có quy mô tương đương cấp quân khu, tổ chức gồm :
- Sư đoàn bộ binh 968.
- Sư đoàn công binh 470.
- Sư đoàn công binh 472.
- Sư đoàn công binh 473.
- Sư đoàn công binh 565.
- Sư đoàn ô tô vận tải 471.
- Sư đoàn ô tô vận tải 571.
- Sư đoàn phòng không 377.
- Các đơn vị trực thuộc gồm : 7 tiểu đoàn pháo binh, 6 trung đoàn cao xạ, 1 trung đoàn bộ binh, 4 trung đoàn đường ống xăng dầu, 2 trung đoàn cầu, 1 trung đoàn vận tải đường sông, 1 trung đoàn giao liên cơ giới, 1 trung đoàn kho, 1 trung đoàn huấn luyện an dưỡng, 4 đoàn Thanh niên xung phong, một số phi đội trực thăng, máy bay tiêm kích.

   Các đơn vị bộ binh chủ lực độc lập :
- Sư đoàn bộ binh 2 QK5 : trung đoàn bộ binh 1, 31, 38 và trung đoàn pháo binh 368.
- Sư đoàn bộ binh 4 QK9 : trung đoàn bộ binh 2, 10, 20 và 1 trung đoàn pháo binh.
- Sư đoàn bộ binh 8 QK8 : trung đoàn bộ binh 15, 18 và 1 trung đoàn pháo binh.
- Sư đoàn bộ binh 968 Đoàn 559 : trung đoàn bộ binh 19, 29 và 1 tiểu đoàn pháo binh.
- Sư đoàn bộ binh 711 QK5.
- Sư đoàn bộ binh 338 dự bị trên miền Bắc : trung đoàn bộ binh 3, 28, 102 và 1 tiểu đoàn pháo binh.
- Sư đoàn bộ binh 350 dự bị trên miền Bắc.
- Lữ đoàn bộ binh 52 QK5 gồm 4 tiểu đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn pháo binh[6].

  Bộ đội địa phương trên chiến trường miền Nam có 21 trung đoàn bộ binh, khoảng 100 tiểu đoàn bộ binh cùng hàng trăm đại đội, trung đội độc lập.

  XE TĂNG THIẾT GIÁP

  Tổng cộng có 9 trung đoàn, lữ đoàn và đơn vị tương đương cùng. Trong đó có 4 lữ/trung đoàn và đơn vị tương đương của các quân đoàn chủ lực và 5 trung/lữ đoàn trực thuộc binh chủng và quân khu :
- Lữ đoàn xe tăng thiết giáp 201 trực thuộc binh chủng.
- Lữ đoàn xe tăng thiết giáp 215 trực thuộc binh chủng.
- Trung đoàn xe tăng huấn luyện 207 trực thuộc binh chủng.
- Trung đoàn xe tăng thiết giáp 206 QK4.
- Trung đoàn xe tăng thiết giáp 574 QK5.

  KHÔNG QUÂN

  Lực lượng Không quân Nhân dân Việt Nam (thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân) có 4 trung đoàn tiêm kích, 1 tiểu đoàn cường kích, 1 lữ đoàn vận tải và 1 trung đoàn huấn luyện .

- Sư đoàn không quân 371 Thăng Long gồm :
+ Trung đoàn tiêm kích 921 Sao Đỏ trang bị máy bay tiêm kích MiG-21.
+ Trung đoàn tiêm kích 923 Yên Thế trang bị máy bay tiêm kích MiG-17.
+ Trung đoàn tiêm kích 925 trang bị máy bay tiêm kích J-6 (MiG-19 do Trung Quốc sản xuất).
+ Trung đoàn tiêm kích 927 Lam Sơn trang bị máy bay tiêm kích MiG-21.
+ Tiểu đoàn cường kích 929 trang bị máy bay ném bom chiến thuật IL-28.

- Lữ đoàn vận tải 919 gồm :
+ Một tiểu đoàn trang bị máy bay vận tải An-2, An-3, An-24.
+ Một tiểu đoàn trang bị máy bay vận tải IL-14, IL-18, Li-2.
+ Một tiểu đoàn trang bị trực thăng Mi-4, Mi-6, Mi-8.
Một số máy bay An-2 và IL-14 của lữ đoàn 919 được cải tiến để mang bom và rocket.
- Trung đoàn huấn luyện 910 trang bị máy bay tiêm kích huấn luyện MiG-15, MiG-17, MiG-21UM.

 PHÒNG KHÔNG

  Ngoài các sư đoàn phòng không thuộc các đơn vị bộ binh, các đơn vị phòng không độc lập gồm 4 sư đoàn  và nhiều trung đoàn phòng không của quân khu, tỉnh :
- Sư đoàn phòng không 361 Hà Nội.
- Sư đoàn phòng không 363 Hải Phòng.
- Sư đoàn phòng không 365 Bắc Thái.
- Sư đoàn phòng không 375.

  PHÁO BINH

  Binh chủng Pháo binh có 7 lữ đoàn, 28 trung đoàn, 38 tiểu đoàn, 104 đại đội, 14 trung đội, 52 khẩu đội.
Trong đó :
 Pháo binh của bộ đội chủ lực có 7 lữ đoàn, 28 trung đoàn, 17 tiểu đoàn, 6 đại đội. Ngoài các đơn vị pháo binh thuộc bộ binh là các đơn vị pháo binh độc lập thuộc binh chủng, quân khu gồm :
- Trực thuộc binh chủng có các lữ đoàn pháo binh 38, 204, 368 và các trung đoàn pháo binh 154, 166, 208.
- Trực thuộc các quân khu có :
+ Trung đoàn pháo binh 6 thuộc Quân khu 9.
+ Trung đoàn pháo binh 16 thuộc Quân khu Trị-Thiên.
+ Trung đoàn pháo binh 572 và 576 Quân khu 5.
+ 3 tiểu đoàn pháo binh thuộc Quân khu 8.
+ 1 tiểu đoàn pháo binh thuộc Quân khu 6.
+ 1 tiểu đoàn pháo binh độc lập trực thuộc B3.
+ 1 tiểu đoàn pháo binh độc lập quân tình nguyện ở Lào.
+ Đoàn 559 : 7 tiểu đoàn pháo binh.

  Ngoài ra lữ đoàn bộ binh 52 QK5 có 2 tiểu đoàn pháo binh, cùng 6 đại đội pháo binh độc lập thuộc các trung đoàn quân tình nguyện ở Lào.
  Pháo binh của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ có 21 tiểu đoàn, 98 đại đội, 14 trung đội, 52 khẩu đội.

  ĐẶC CÔNG

  Lực lượng đặc công được tổ chức rải khắp các chiến trường, các cấp, riêng trực thuộc binh chủng có 4 tiểu đoàn cơ động, thuộc mặt trận B1, B2, B3, B4 có 8 trung / lữ đoàn và 11 tiểu đoàn đặc công. Tổng lực lượng trên chiến trường miền Nam là 1 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 5 trung đoàn, 36 tiểu đoàn, 121 đại đội và hàng trăm phân đội nhỏ hơn :
 - Sư đoàn đặc công 2 gồm 7 trung đoàn : 10 (đặc công nước), 113, 115, 116, 117, 119, 429.
 - Lữ đoàn đặc công biệt động 316 gồm 4 tiểu đoàn đặc công vùng ven Sài Gòn và 13 cụm biệt động nội đô.
 - Các đơn vị độc lập có các trung đoàn 126 B4 (đặc công nước), 198 B3, 8 QK8, 10 QK9, 367B (F5) và đoàn 1 đặc công biệt động.

 HẢI QUÂN

  Quân chủng Hải quân có 2 trung đoàn tàu chiến, 2 trung đoàn tàu vận tải, 4 vùng hải quân, 2 đoàn và một số tiểu đoàn đặc công thủy, pháo cối.
 - Trung đoàn tàu chiến 171.
 - Trung đoàn tàu chiến 172.
 - Trung đoàn tàu vận tải 125.
 - Trung đoàn tàu vận tải 128.
 - Các vùng hải quân K2, K3, K4, K5 .
 - Đoàn 10 Rừng Sác và đoàn 126 đặc công thủy.

* LỰC LƯỢNG KHỐI CÁC NƯỚC XHCN THAM CHIẾN TẠI VIỆT NAM

 CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

 Từ tháng 06/1965 đến tháng 03/1969, CHND Trung Hoa đưa sang Việt Nam 346 chuyên gia quân sự và 320.000 lượt quân nhân, công nhân xây dựng công trình quốc phòng, làm đường bộ, đường sắt. Những đơn vị đầu tiên sang Việt Nam tháng 06/1965 gồm 4 chi đội (tương đương sư đoàn) công binh 1, 4, 5, 6 được tổ chức thành 22 trung đoàn công binh, trong đó chi đội 1 công binh đảm nhiệm xây dựng đường sắt Lưu Xá - Kép, chi đội 5 công binh đảm nhiệm sửa chữa đường ô tô từ Lào Cai xuống Yên Bái, chi đội 4 công binh đảm nhiệm nâng cấp quốc lộ 3 từ Bờ Đậu - Phú Lương đến Cao Bắc - Ngân Sơn. Ngoài ra còn một số đơn vị công binh đường sắt, công binh không quân, quân y, rà phá mìn của hải quân và công nhân xây dựng với tổng số khoảng 170.000 lượt người.
 Từ cuối năm 1966, một số đơn vị phòng không CHND Trung Hoa cũng được đưa sang Việt Nam làm nhiệm vụ chiến đấu tại khu vực gần biên giới Việt - Trung, những đơn vị đầu tiên là Chi đội (tương đương sư đoàn) 62 phòng không (từ tháng 12/1966 đến tháng 08/1967), Chi đội 170 phòng không (từ tháng 07/1967 đến tháng 03/1968)... Tổng cộng có 16 lượt chi đội với 63 lượt trung đoàn phòng không đã tham chiến ở Việt Nam, với khoảng 150.000 lượt người. Các đơn vị này bao gồm:
 Tại mặt trận phía tây:
- Chi đội 6.
- Chi đội 61.
- Chi đội 67.
- Chi đội 164.
- Chi đội 165.
- Chi đội 166.
 Tại mặt trận phía đông:
- Chi đội 19.
- Chi đội 31.
- Chi đội 32.
- Chi đội 34.
- Chi đội 35.
- Chi đội 37.
- Chi đội 62.
- Chi đội 63.
- Chi đội 163.
- Chi đội 168.
- Chi đội 170.
 Từ tháng 02/1969, toàn bộ các đơn vị CHND Trung Hoa gồm 7 trung đoàn công binh làm đường sắt, 2 trung đoàn công binh sửa chữa đường bộ, 4 chi đoàn cao xạ và một số đơn vị công binh không quân với quân số 114.563 người lần lượt được tổ chức rút về nước và đến tháng 09/1969 hoàn thành rút quân khỏi Việt Nam.
 Trong thời gian ở Việt Nam, các đơn vị CHND Trung Hoa bị tổn thất 771 người chết và 1.675 người bị thương.

 LIÊN BANG CHXHCN XÔ VIẾT

 Từ 1960 đến 1975, Liên bang CHXHCN Xô Viết đưa khoảng 6.500 lượt tướng lĩnh, sĩ quan và 4.500 lượt hạ sĩ quan, binh sĩ sang làm nhiệm vụ tại Việt Nam. Các chuyên gia quân sự Liên Xô đã trực tiếp tham chiến trong các đơn vị tên lửa đất đối không của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong giai đoạn 1965 - 1966. Tổn thất ở Việt Nam là 13 người chết (4 không trong chiến đấu).
 Tại chiến trường Lào, từ 1960 đến 1963, đoàn không quân vận tải Liên Xô gồm 20 máy bay vận tải Li-2, 14 máy bay vận tải IL-14, 10 trực thăng Mi-1 và Mi-4 tham gia phối hợp với Không quân Nhân dân Việt Nam làm nhiệm vụ chi viện cho bộ đội Việt Nam và Lào. Trong thời gian hoạt động có 1 máy bay IL-14 bị bắn rơi làm 6 quân nhân Liên Xô chết.

 CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRIỀU TIÊN

 Từ năm 1966 đến 1969, CHNDND Triều Tiên cử sang Việt Nam 384 chuyên gia quân sự (trong đó có 96 phi công và nhân viên kỹ thuật không quân) và 35 chuyên gia về địch vận, phát thanh. Từ cuối 1966 đến 1967, các phi công và nhân viên kỹ thuật không quân CHNDND Triều Tiên dưới danh nghĩa các đại đội chuyên gia lần lượt được sang Việt Nam và tổ chức thành 2 đại đội MiG-17 và 1 đại đội MiG-21 do Việt Nam trang bị. Các đơn vị này sau đó được tổ chức chung thành đoàn bay Z, đóng căn cứ tại sân bay Kép và được đặt dưới sự chỉ huy của Bộ tư lệnh Sư đoàn Không quân 371 Không quân Nhân dân Việt Nam.
 Trong thời gian tham chiến ở Việt Nam, tổn thất của CHDCND Triều Tiên là 14 phi công chết (trong đó 2 không trong chiến đấu).

 CÁC QUỐC GIA KHÁC

 Các quốc gia khác thuộc khối xã hội chủ nghĩa như Cuba và một số nước Đông Âu cũng cử chuyên gia quân sự sang Việt Nam.





Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

Jiddu Krishnamurti - Sự tĩnh lặng

 Khi bạn nhìn ngắm mà không khởi động tư duy, một niềm vắng lặng lớn đến vào trong bạn. Bộ não tự nó tĩnh lặng, không bất kỳ một phản ứng nào, không một vận động, và kỳ lạ để cảm được cái vắng lặng vô lượng. "Cảm" không phải là ngôn ngữ. Phẩm chất của cái vắng lặng đó, cái ngưng đọng đó thì không được cảm bởi bộ não; nó vượt qua cả bộ não. Não bộ có thể nhận thức, công thức hóa hay vẽ kiểu cho tương lai, nhưng cái tĩnh lặng này vượt ra ngoài phạm vi của nó, vượt ra mọi tưởng tượng, vượt ra mọi thèm khát. Bạn tĩnh lặng đến nỗi thân xác bạn trở thành một phần hoàn toàn của mặt đất, một phần của tất cả những gì tĩnh lặng.

 Và khi ngọn gió nhẹ đến từ các ngọn đồi, lay động lá cây, sự tĩnh lặng này, cái phẩm chất dị thường của vắng lặng này, thì không bị quấy động. Ngôi nhà nằm giữa các ngọn đồi và biển, nhìn ra biển. Và khi bạn nhìn ngắm biển, rất mực tĩnh lặng như vậy, bạn thực sự trở thành một phần của tất cả mọi thứ. Bạn là tất cả. Bạn là ánh sáng, và vẻ đẹp của tình yêu.
Một lần nữa, để nói "bạn là một phần của tất cả" thì cũng sai: chữ "bạn" thì không thích hợp bởi vì bạn thực sự không ở đó. Bạn không hiện hữu. Chỉ có cái tĩnh lặng đó, cái vẻ đẹp, cái nghĩa dị thường của tình yêu bao la...


 Sự tĩnh lặng không loại trừ tiếng ồn, khi tâm ta tĩnh lặng thì mọi thứ, âm thanh, tiếng ồn.... vẫn tĩnh lặng. ..

 Tâm thiền thì im lặng. Không phải sự im lặng mà ý nghĩ có thể nhận biết bằng khái niệm, cũng không phải sự im lặng của một buổi chiều tịch mịch, mà là sự im lặng khi ý nghĩ, với tất cả hình ảnh, ngôn từ và nhận thức của nó hoàn toàn chấm dứt.

 Tâm thiền là tâm đạo, một thứ đạo giáo chưa hề bị thánh đường, đền chùa và sự tụng niệm đụng đến. Tâm đạo là sự bùng nổ của tình yêu. Tình yêu này không hề biết đến phân biệt. Đối với nó xa là gần. Nó không phải cái một hay cái nhiều, mà đúng ra trong trạng thái yêu đó mọi phân chia đều chấm dứt. Cũng như cái đẹp, nó không thuộc về sự đo lường của ngôn từ. Chỉ từ sự im lặng này tâm thiền hoạt động.





 Jiddu Krishnamurti là một trong số những triết gia vĩ đại trong thời đại của chúng ta, ông được xếp là một trong số 5 vị Thánh của thế kỷ 20. Jiddu Krishnamurti sinh năm 1895 tai Andhra Pradesh, Ấn Độ trong một gia đình Bà-la-môn trung lưu. Khi ông được 14 tuổi, các thành viên của Tổ chức Theosophical Society ( còn gọi là Hội Thông Thiên Học Quốc Tế ) trông thấy ông đang đi bộ dọc theo bờ biển và họ đoan chắc rằng họ đã tìm ra được một bậc thầy của thế giới. Sau đó, triết gia Annie Besant  nhận làm cha đỡ đầu của ông và nuôi dưỡng ông tại Anh quốc. Vào những năm 1920, ông tham gia các cuộc thảo luận cùng hàng ngàn khán thính giả. Năm 1929, ông rời bỏ tổ chức Theosophical Society và một mình lên đường tham gia rao giảng khắp thế giới trong vai trò là một người không thân phận, không quốc tịch, không tôn giáo, không truyền thống.

 Krishnamurti đã đi khắp thế giới và rao giảng cùng hàng chục triệu khán thính giả. Các bài thảo luận của ông đã được in ấn thành hơn 70 cuốn sách khác nhau. Ông qua đời vào năm 1986 tại Ojai, California, Mỹ.

 Những tác phẩm tiêu biểu của ông:

 Nghĩ về những điều này
 Thế nào là Tình Yêu
 Bàn về liên hệ
 Bàn về giáo dục
 Cuốn sách của cuộc sống
 Nói chuyện cuối cùng 1985
 Bài diễn văn giải tán hội Ngôi sao
 Tuyển tập Krishnamurti
 Bạn làm gì với đời mình - Chuyên đề đặc biệt dành cho tuổi trẻ
 Cuộc đời phía trước
 Về sống và chết
 Đại bàng cất cánh
 Tự do đầu tiên và cuối cùng
 Giáo dục và ý nghĩa của cuộc sống
 Bàn luận về cuộc sống I
 Bàn luận về cuộc sống II
 Bàn luận về cuộc sống III
 Tự do khỏi tri thức
 Thiền định
 Cuộc cách mạng duy nhất
 Bạn là cả thế giới
 Truyền thống và Cách mạng
 Sự khẩn thiết phải thay đổi
 Câu hỏi không thể
 Khai sáng trí năng
 Khám phá nội tâm
 Toàn bộ cuộc sống
 Ngọn lửa chú ý
 Tương lai là hiện tại
 Mạng lưới suy nghĩ

 Tâm không đo lường 

Vài Bài Thơ Đời Đường Trung Quốc

 Đời Đường ( 618 - 907 ) là một triều đại quan trọng trong lịch sử Trung Quốc, thời kỳ này kinh tế phồn vinh, xã hội ổn định, văn hóa nghệ thuật thu được thành tựu huy hoàng, nhất là thơ ca cổ điển Trung Quốc ở vào thời kỳ phát triển cực thịnh. Sáng tác thơ ca trở thành một trong những nội dung chủ yếu trong hoạt động văn hóa xã hội ở đời Đường, nội dung thi khoa cử của triều đình cũng thay đổi từ thi viết luận văn thành thi viết thơ phú. Trong cuốn sách văn học “Toàn Đường Thi” lưu truyền đến bây giờ, có gần 50 nghìn bài thơ của hơn 2300 nhà thơ.

 VƯƠNG HÀN

 Vương Hàn 王翰 (687-735) tự là Tử Vũ 子羽, người đất Tấn Dương (nay là huyện Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây). Thưở nhỏ, tính hào phóng, thích uống rượu. Ông thi đậu tiến sĩ, làm quan đến chức Giá bộ viên ngoại lang. Vì kiêu căng nên nhiều người ghét, bị đổi ra làm Trưởng sử Nhữ Châu, sau đổi làm Biệt giá Tiên Châu, rồi bị biếm làm Tư mã Đạo Châu và mất tại đây.

  LƯƠNG CHÂU TỪ

 Bồ đào mỹ tửu , dạ quang bôi
 Dục ẩm , tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?

 LƯƠNG CHÂU TỪ

 Đây rượu bồ đào , đây chén ngọc
 Muốn say đàn đã giục ra đi
 Ai cười chiến địa mình say ngủ
 Chinh chiến xưa nay mấy kẻ về



 THÔI HIỆU ( ? -754 )

 Người Biện Châu nay là huyện Khai Phong tỉnh hà Nam . Đậu tiến sĩ, tính lãng mạn, cờ bạc rượu chè hay rầy vợ làm đến chức Tư Huân Viên Ngoại Lang


 HOÀNG HẠC LÂU

 Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
 Thử địa không dư hoàng hạc lâu
 Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
 Bạch vân thiên tải không du du
 Tình xuyên lịch lịch hán dương thụ
 Phương thảo thê thê oanh vũ châu
 Nhật ngộ hương quan hà xứ thị
 Yên ba giang thượng sử nhân sầu

  LẦU HOÀNG HẠC

 Người xưa cởi hạc đến nơi đâu
 Hoàng hạc còn đây một mái lầu
 Hạc đã một đi không trở lại
 Mênh mang mây trắng xóa ngàn thâu
 Hán Dương sông tạnh , cây in sắc
 Anh vũ bờ thơm, cỏ biếc màu
 Chiều tối trông vời đâu cố quân ?
 Trên sông khói sóng giục ai sầu

 Ghi chú : Lầu Hoàng Hạc ở Vũ Xương, trước thời Ngô Phù Sai nơi đây chỉ là một cồn đất hoang.  Một buổi sáng hôm ấy ánh vàng trải đầy thảm cỏ Ngô Vương ngự chơi Động Đình hồ, ghé vùng Vũ Xương bỗng nhiên thấy một con hạc vàng lớn bay lên trời, vua sai lập một lầu cao để thờ hạc, từ đó lầu Hoàng Hạc được dựng nên.  Qua bao thế hệ và những bước thăng trầm của lịch sử lầu Hoàng Hạc đă bị lăng quên.  Đến đời sơ Đường, Thôi Hiệu đến đây đề thơ "Hoàng Hạc Lâu."  Lầu Hoàng Hạc đă sống lại và đi vào lịch sử.  Bài "Hoàng Hạc Lâu" này là một trong những tuyệt tác của thể thơ Thất Ngôn Bát Cú do thi nhân Thôi Hiệu viết vào đời Sơ Đường.  Tương truyền Lư Bạch một hôm ghé thăm lầu Hoàng Hạc, thấy phong cảnh nên thơ, ông liền phóng bút viết vài câu thơ nhưng chợt thấy bài "Hoàng Hạc Lâu" khắc ở trên tường v́ kính nể tiền nhân nên ông ngửa mặt than rằng: "Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất đắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu..." (Xa xa phong cảnh hữu t́ình, Tiếc thay Thôi Hiệu đả đính thơ trên).  Đại văn hào Nguyễn Du của Việt Nam ta cũng có lần ghé thăm Lầu Hoàng Hạc, cảm xúc hai câu cuối của bài thơ vì nỗi nhớ nhà nên ông đả họa lại hai câu đặc sắc là : "Thi thành thảo thụ giai thiên cổ, Nhật mộ hương quan cộng nhất sầu..." (Thơ truyền cây cỏ cùng muôn thuở, Bóng xế quê hương một nỗi niềm)...



 PHONG KIỀU DẠ BẠC

 Nguyệt lạc, ô đề sương mãn thiên
 Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên
 Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
 Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

 BAN ĐÊM ĐẬU THUYỀN TẠI SÔNG KIỀU

 Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
 Lửa chài , cây bến , sầu vương giấc hồ
 Thuyền ai đậu bến Cô Tô
 Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

                                                       Tản Đà dịch

 THÔI HỘ

 Tự là Âu Công người quận Bác Lăng nay là huyện Định Tính Trực Lệ lận đận khoa cử mãi đến năm thứ 12 niên hiệu Trinh Nguyên( 796 ) mới đậu tiến sĩ làm đến chức Tiết độ sứ lĩnh nam.

 ĐỀ ĐÔ THÀNH NAM TRANG

 Khứ niên kim nhật thử môn trung
 Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
 Nhân diện bất tri hà xứ khứ ?
 Đào hoa y cựu tiếu đông phong

 THƠ ĐỀ PHÍA NAM ĐÔ THÀNH

 Cửa này, năm ngoái, hôn nay
 Hoa đào phản chiếu mặt ai ửng đào
 Mặt người giờ ở nơi nao
 Hoa đào vẫn đó cười , chào gió đông



 Thôi Hộ là thi sĩ đẹp trai phong lưu nhưng ít giao du. Một hôm nhân tiết thanh minh dạo chơi ngoài thành , thấy một vườn hoa đào nở tươi thắm bèn gõ cửa vào xin nước uống, đồng thời để được thưởng hoa . Một người con gái mặt đẹp như hoa đào ra mở cửa hỏi rồi đem nước mời uống . Tiết thanh minh năm sau Thôi Hộ nhớ lại chuyện xưa bèn tìm lại nơi kỳ ngộ thì thấy cửa đóng then cài , chàng để lại một bài thơ ở cửa rồi đi . Mấy hôm sau lại đến thì chợt nghe có tiếng người khóc. Một ông lão ra hỏi có phải là Thôi Hộ không , rồi kể lể sự tình : Con gái cụ khi đọc bài thơ thì đã nhịn đói mà chết . Thôi Hộ vào khấn trước xác người con gái còn tươi như hoa. Cô gái sống lại cùng họ Thôi kết duyên chồng vợ
 Đây là bài thơ tuyệt tác oan nghiệt của Thôi Hộ

  LÝ BẠCH ( 701 – 762 )

 Truyền thuyết kể rằng :  Thân mẫu nằm mộng thành sao Trường canh rồi sinh ra ông nên ông lấy tên tự là Thái Bạch

 Lý Bạch thông minh đĩnh ngộ là người hào hiệp cao nghĩa khinh tài trọng thí. Có đến làm dưới trướng của thứ sử Ích Châu Tô Đình được khen là thiên tài có thể sánh vai với Tư Mã Tương Như. Đi ngao du nhiều nơi. Kết bạn với các danh thơ nỗi tiếng Trung Hoa.

 Bị bệnh mất vào năm 762 thọ 62 tuổi . Có thuyết khác theo Đỗ Phủ , Vương Đình Bảo và Hồng Đông Trai thì Lý Bạch chết đuối tại sông Thái bạch ( huyện Đang Đồ ) trong khi say rượu . Tục truyền rằng Lý Bạch uống rượu say cúi xuống sông bắt lấy bóng trăng do đó chết đuối . Tại nơi này có một cái đài gọi là Tróc Nguyệt Đài ( Đài bắt trăng )



  KÝ VIỄN

  Mỹ nhân tại thời hoa mãn đường
  Mỹ nhân khứ hậu dư không sang
  Sàng trung tú bị quyển bất tẩm
  Chi kim tam tải văn dư hương
  Hương diệc cánh bất diệc
  Nhân diệc cánh bất lai
  Tương tư hoàng diệp tận
  Bạch lộ thấp thanh đài

  GỬI NGƯỜI ĐI XA

  Người đẹp còn đây nhà đầy bông
  Người đẹp đi rồi giường bỏ không
  Trên giường chăn nệm không ai ngủ
  Nay đã ba năm hương còn nồng
  Hương không bay đi mất
  Người xa không trở về
  Nhớ nhau lá vàng rụng
  Rêu xanh ướt não nề

  KHUÊ TÌNH

  Lưu thủy khứ tuyệt quốc
  Phù vân từ cố quận
  Thủy hoặc luyến tiền phố
  Vân do quy cựu san
  Hận quân lưu sa khứ
  Khí thiếp Ngư Dương gian
  Ngọc trợ dạ phù lưu
  Song song lạc chu nhan
  Hoàng điểu tọa tương bi
  Lục dưỡng thùy cánh phan
  Chúc cẩm tâm thảo thảo
  Phiêu đăng lệ ban ban
  Khuy kính bất tự thức
  Huống nãi cuồng phu hoàn

 TÌNH TRONG PHÒNG KHUÊ

 Nước đến nơi xa thẳm
 Mây từ biệt ải xưa
 Nước còn thương bến cũ
 Mây còn về núi nhà
 Lưu Sa chàng lận đận
 Ngư Dương thiếp xót xa
 Đêm đêm tuôn đũa ngọc
 Hai hàng trên mặt hoa
 Chim cùng ta sầu khổ
 Cành liễu ai người vin?
 Lòng đau dệt bức gấm
 Lệ rơi khêu gọn đèn
 Soi gương ngỡ người lạ
 Chàng về biết có quên


Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

Giúp Con Đối Phó Tệ Nạn Bắt Nạt

 Bài viết của Sarah Trần, Giáo viên bang Ontario, thành phố Toronto, Canada

 Ngày nay, trường học được xem như là một thế giới thu nhỏ của xã hội đa văn hóa dành cho trẻ em và thanh thiếu niên. Các em được tiếp xúc với nhiều người có những cảm nhận ngoại hình cơ thể, cấu trúc gia đình, chủng tộc, sắc tộc, giới tính, địa vị xã hội và khả năng kinh tế khác nhau, hệt như trong thế giới ta đang sống.
 Tuy nhiên, cách hành xử không thích đáng như hành động bắt nạt là sự thiếu tôn trọng cái đa dạng của xã hội và đồng thời hủy hoại cuộc sống của những nạn nhân. Trẻ em có quyền được cảm thấy an toàn ở mọi nơi. Với tư cách là cha mẹ và người giám hộ, bạn có thể đóng vai trò tích cực trong việc giúp con em mình đối phó với tệ nạn bắt nạt. Điều quan trọng là tạo được sự tin tưởng giữa bạn, những người lớn và con em bạn, để các em cảm thấy thoải mái và tìm đến bạn trong những trường hợp cần giúp đỡ khi bị bắt nạt. 
Bắt nạt là gì?
 Trong Đạo Luật Giáo Dục Ontario, bắt nạt được định nghĩa như sau:
 Bắt nạt là hành vi hung hăng được lặp đi lặp lại nhiều lần; với mục đích gây tổn hại, sợ hãi, đau khổ, hoặc tạo ra môi trường tiêu cực trong trường học cho người khác. Bắt nạt xảy ra khi một người tự cho mình quyền sai khiến hoặc chế ngự người khác, trong khi thực tế họ không có quyền làm như vậy. 
 Những năm gần đây, cùng với việc tiếp cận công nghệ và truyền thông xã hội dễ dàng, bắt nạt không còn là vấn nạn chỉ có trong khuôn viên trường học. Bắt nạt có thể hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau:
• Thể chất – đánh đập, xô đẩy, trộm cắp hoặc phá hoại tài sản.
• Lời nói – mạ lỵ, chế giễu hoặc đưa ra những bình luận có thành kiến về giới tính, chủng tộc hoặc đồng tính.
• Xã hội – loại trừ người khác ra khỏi nhóm hoặc phao tin đồn về họ. 
• Điện tử (thường được gọi là bắt nạt trên mạng) – phao tin đồn và những bình luận gây tổn thương qua việc sử dụng email, điện thoại và gửi tin nhắn. 
Làm sao tôi biết được con mình đang bị bắt nạt?
 Trẻ em có thể cảm thấy mắc cỡ khi kể với cha mẹ hoặc người lớn rằng mình đang bị bắt nạt vì sợ làm cho tình hình thêm tồi tệ. Các bạn trẻ có thể cảm thấy xấu hổ khi để cha mẹ can thiệp vào tình huống mà họ muốn được giải quyết theo cách riêng của họ. Đừng để sự im lặng của con em bạn kéo dài. Hãy lưu ý đến một số dấu hiệu chứng tỏ con em bạn có thể đang bị bắt nạt như sau: 
• Mất mát hoặc thiệt hại tài sản cá nhân như tiền bạc, quần áo, đồ chơi, sách vở, thiết bị điện tử.
• Cố tình tránh né các hoạt động xã hội như đi chơi với bạn bè.
• Miễn cưỡng, không muốn đi học; đề cập đến cảm giác ghét trường học.
• Giả bệnh để tránh đi học.
• Lảng tránh các cuộc nói chuyện về những gì đang xảy ra trong trường học.
• Kết quả học tập thấp kém.
• Những vết thương không có lý do như vết bầm tím và trầy xước.
• Các hành vi tự làm tổn hại bản thân như bỏ nhà đi, tự gây thương tích, nói về ý định tự tử.
 Người lớn có thể cảm thấy bất lực khi can thiệp vào chuyện bắt nạt, nhưng việc giải quyết tình huống bắt nạt cùng con em mình với tinh thần đồng cảm và hợp tác sẽ giúp bạn và con em bạn tăng thêm nguồn sức mạnh. Điều quan trọng là lắng nghe các em với tinh thần cởi mở để chúng có thể cảm nhận được sự thấu hiểu và quan tâm từ bạn. Điều tồi tệ nhất mà bạn có thể nói với con mình khi chúng bị bắt nạt là “phớt lờ nó đi” hay “hãy tử tế thì nó sẽ không bắt nạt con nữa đâu”. Khi bạn biết con mình đang bị bắt nạt, hãy làm những điều sau đây:
• Khuyến khích con em mình kể về chuyện bị bắt nạt với bạn, anh chị em hay bạn bè để chúng không cảm thấy cô độc.
• Cảm ơn chúng vì đã tin tưởng và kể cho bạn nghe, và hãy nói rằng đó không phải là lỗi của chúng. Đồng thời, hãy nói với các em là bạn sẽ cùng chúng vạch ra kế hoạch để giảm bớt tác hại của việc bị bắt nạt.
• Khuyên con em bạn theo những kế hoạch sau đây: Hãy bỏ đi khi tình trạng trở nên tồi tệ – Không phản ứng với chuyện bắt nạt bằng cách đánh trả, gây sự lại, hoặc trả lời tin nhắn của kẻ bắt nạt. Hãy khuyên con em bạn nói chuyện với một người nào đó mà các em tin tưởng hoặc gọi điện đến đường dây hỗ trợ Kids Help Phone (1-800-668-6868) để kể, một cách ẩn danh, về tình trạng bị bắt nạt.
• Sắp xếp một cuộc hẹn với giáo viên, hiệu trưởng hay phó hiệu trưởng để trình bày sự việc. Các nhân viên trong trường học đã được đào tạo để giúp ngăn chặn những hành vi bắt nạt, và sẽ nỗ lực điều tra trong khi vẫn bảo vệ sự riêng tư của con bạn. 
• Nếu hành vi bắt nạt liên quan đến hoạt động phạm pháp như tấn công tình dục hay sử dụng vũ khí, hãy liên lạc ngay với cảnh sát.
  Cần có một tập thể người lớn cũng như trẻ em có lòng tin vào nhau và cùng nhau đứng lên để chống lại những hành vi không thể chấp nhận được như tệ nạn bắt nạt. Hãy đóng vai trò tích cực trong việc giúp các em đối phó với chuyện bị bắt nạt. Qua sự hợp tác giữa các phụ huynh với giáo viên, bạn sẽ tạo được nơi các em sự tin tưởng là người lớn sẽ có những kế hoạch hiệu quả trong việc chặn đứng tệ nạn bắt nạt.