Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

Vài Bài Thơ Đời Đường Trung Quốc

 Đời Đường ( 618 - 907 ) là một triều đại quan trọng trong lịch sử Trung Quốc, thời kỳ này kinh tế phồn vinh, xã hội ổn định, văn hóa nghệ thuật thu được thành tựu huy hoàng, nhất là thơ ca cổ điển Trung Quốc ở vào thời kỳ phát triển cực thịnh. Sáng tác thơ ca trở thành một trong những nội dung chủ yếu trong hoạt động văn hóa xã hội ở đời Đường, nội dung thi khoa cử của triều đình cũng thay đổi từ thi viết luận văn thành thi viết thơ phú. Trong cuốn sách văn học “Toàn Đường Thi” lưu truyền đến bây giờ, có gần 50 nghìn bài thơ của hơn 2300 nhà thơ.

 VƯƠNG HÀN

 Vương Hàn 王翰 (687-735) tự là Tử Vũ 子羽, người đất Tấn Dương (nay là huyện Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây). Thưở nhỏ, tính hào phóng, thích uống rượu. Ông thi đậu tiến sĩ, làm quan đến chức Giá bộ viên ngoại lang. Vì kiêu căng nên nhiều người ghét, bị đổi ra làm Trưởng sử Nhữ Châu, sau đổi làm Biệt giá Tiên Châu, rồi bị biếm làm Tư mã Đạo Châu và mất tại đây.

  LƯƠNG CHÂU TỪ

 Bồ đào mỹ tửu , dạ quang bôi
 Dục ẩm , tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?

 LƯƠNG CHÂU TỪ

 Đây rượu bồ đào , đây chén ngọc
 Muốn say đàn đã giục ra đi
 Ai cười chiến địa mình say ngủ
 Chinh chiến xưa nay mấy kẻ về



 THÔI HIỆU ( ? -754 )

 Người Biện Châu nay là huyện Khai Phong tỉnh hà Nam . Đậu tiến sĩ, tính lãng mạn, cờ bạc rượu chè hay rầy vợ làm đến chức Tư Huân Viên Ngoại Lang


 HOÀNG HẠC LÂU

 Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
 Thử địa không dư hoàng hạc lâu
 Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
 Bạch vân thiên tải không du du
 Tình xuyên lịch lịch hán dương thụ
 Phương thảo thê thê oanh vũ châu
 Nhật ngộ hương quan hà xứ thị
 Yên ba giang thượng sử nhân sầu

  LẦU HOÀNG HẠC

 Người xưa cởi hạc đến nơi đâu
 Hoàng hạc còn đây một mái lầu
 Hạc đã một đi không trở lại
 Mênh mang mây trắng xóa ngàn thâu
 Hán Dương sông tạnh , cây in sắc
 Anh vũ bờ thơm, cỏ biếc màu
 Chiều tối trông vời đâu cố quân ?
 Trên sông khói sóng giục ai sầu

 Ghi chú : Lầu Hoàng Hạc ở Vũ Xương, trước thời Ngô Phù Sai nơi đây chỉ là một cồn đất hoang.  Một buổi sáng hôm ấy ánh vàng trải đầy thảm cỏ Ngô Vương ngự chơi Động Đình hồ, ghé vùng Vũ Xương bỗng nhiên thấy một con hạc vàng lớn bay lên trời, vua sai lập một lầu cao để thờ hạc, từ đó lầu Hoàng Hạc được dựng nên.  Qua bao thế hệ và những bước thăng trầm của lịch sử lầu Hoàng Hạc đă bị lăng quên.  Đến đời sơ Đường, Thôi Hiệu đến đây đề thơ "Hoàng Hạc Lâu."  Lầu Hoàng Hạc đă sống lại và đi vào lịch sử.  Bài "Hoàng Hạc Lâu" này là một trong những tuyệt tác của thể thơ Thất Ngôn Bát Cú do thi nhân Thôi Hiệu viết vào đời Sơ Đường.  Tương truyền Lư Bạch một hôm ghé thăm lầu Hoàng Hạc, thấy phong cảnh nên thơ, ông liền phóng bút viết vài câu thơ nhưng chợt thấy bài "Hoàng Hạc Lâu" khắc ở trên tường v́ kính nể tiền nhân nên ông ngửa mặt than rằng: "Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất đắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu..." (Xa xa phong cảnh hữu t́ình, Tiếc thay Thôi Hiệu đả đính thơ trên).  Đại văn hào Nguyễn Du của Việt Nam ta cũng có lần ghé thăm Lầu Hoàng Hạc, cảm xúc hai câu cuối của bài thơ vì nỗi nhớ nhà nên ông đả họa lại hai câu đặc sắc là : "Thi thành thảo thụ giai thiên cổ, Nhật mộ hương quan cộng nhất sầu..." (Thơ truyền cây cỏ cùng muôn thuở, Bóng xế quê hương một nỗi niềm)...



 PHONG KIỀU DẠ BẠC

 Nguyệt lạc, ô đề sương mãn thiên
 Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên
 Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
 Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

 BAN ĐÊM ĐẬU THUYỀN TẠI SÔNG KIỀU

 Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
 Lửa chài , cây bến , sầu vương giấc hồ
 Thuyền ai đậu bến Cô Tô
 Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

                                                       Tản Đà dịch

 THÔI HỘ

 Tự là Âu Công người quận Bác Lăng nay là huyện Định Tính Trực Lệ lận đận khoa cử mãi đến năm thứ 12 niên hiệu Trinh Nguyên( 796 ) mới đậu tiến sĩ làm đến chức Tiết độ sứ lĩnh nam.

 ĐỀ ĐÔ THÀNH NAM TRANG

 Khứ niên kim nhật thử môn trung
 Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
 Nhân diện bất tri hà xứ khứ ?
 Đào hoa y cựu tiếu đông phong

 THƠ ĐỀ PHÍA NAM ĐÔ THÀNH

 Cửa này, năm ngoái, hôn nay
 Hoa đào phản chiếu mặt ai ửng đào
 Mặt người giờ ở nơi nao
 Hoa đào vẫn đó cười , chào gió đông



 Thôi Hộ là thi sĩ đẹp trai phong lưu nhưng ít giao du. Một hôm nhân tiết thanh minh dạo chơi ngoài thành , thấy một vườn hoa đào nở tươi thắm bèn gõ cửa vào xin nước uống, đồng thời để được thưởng hoa . Một người con gái mặt đẹp như hoa đào ra mở cửa hỏi rồi đem nước mời uống . Tiết thanh minh năm sau Thôi Hộ nhớ lại chuyện xưa bèn tìm lại nơi kỳ ngộ thì thấy cửa đóng then cài , chàng để lại một bài thơ ở cửa rồi đi . Mấy hôm sau lại đến thì chợt nghe có tiếng người khóc. Một ông lão ra hỏi có phải là Thôi Hộ không , rồi kể lể sự tình : Con gái cụ khi đọc bài thơ thì đã nhịn đói mà chết . Thôi Hộ vào khấn trước xác người con gái còn tươi như hoa. Cô gái sống lại cùng họ Thôi kết duyên chồng vợ
 Đây là bài thơ tuyệt tác oan nghiệt của Thôi Hộ

  LÝ BẠCH ( 701 – 762 )

 Truyền thuyết kể rằng :  Thân mẫu nằm mộng thành sao Trường canh rồi sinh ra ông nên ông lấy tên tự là Thái Bạch

 Lý Bạch thông minh đĩnh ngộ là người hào hiệp cao nghĩa khinh tài trọng thí. Có đến làm dưới trướng của thứ sử Ích Châu Tô Đình được khen là thiên tài có thể sánh vai với Tư Mã Tương Như. Đi ngao du nhiều nơi. Kết bạn với các danh thơ nỗi tiếng Trung Hoa.

 Bị bệnh mất vào năm 762 thọ 62 tuổi . Có thuyết khác theo Đỗ Phủ , Vương Đình Bảo và Hồng Đông Trai thì Lý Bạch chết đuối tại sông Thái bạch ( huyện Đang Đồ ) trong khi say rượu . Tục truyền rằng Lý Bạch uống rượu say cúi xuống sông bắt lấy bóng trăng do đó chết đuối . Tại nơi này có một cái đài gọi là Tróc Nguyệt Đài ( Đài bắt trăng )



  KÝ VIỄN

  Mỹ nhân tại thời hoa mãn đường
  Mỹ nhân khứ hậu dư không sang
  Sàng trung tú bị quyển bất tẩm
  Chi kim tam tải văn dư hương
  Hương diệc cánh bất diệc
  Nhân diệc cánh bất lai
  Tương tư hoàng diệp tận
  Bạch lộ thấp thanh đài

  GỬI NGƯỜI ĐI XA

  Người đẹp còn đây nhà đầy bông
  Người đẹp đi rồi giường bỏ không
  Trên giường chăn nệm không ai ngủ
  Nay đã ba năm hương còn nồng
  Hương không bay đi mất
  Người xa không trở về
  Nhớ nhau lá vàng rụng
  Rêu xanh ướt não nề

  KHUÊ TÌNH

  Lưu thủy khứ tuyệt quốc
  Phù vân từ cố quận
  Thủy hoặc luyến tiền phố
  Vân do quy cựu san
  Hận quân lưu sa khứ
  Khí thiếp Ngư Dương gian
  Ngọc trợ dạ phù lưu
  Song song lạc chu nhan
  Hoàng điểu tọa tương bi
  Lục dưỡng thùy cánh phan
  Chúc cẩm tâm thảo thảo
  Phiêu đăng lệ ban ban
  Khuy kính bất tự thức
  Huống nãi cuồng phu hoàn

 TÌNH TRONG PHÒNG KHUÊ

 Nước đến nơi xa thẳm
 Mây từ biệt ải xưa
 Nước còn thương bến cũ
 Mây còn về núi nhà
 Lưu Sa chàng lận đận
 Ngư Dương thiếp xót xa
 Đêm đêm tuôn đũa ngọc
 Hai hàng trên mặt hoa
 Chim cùng ta sầu khổ
 Cành liễu ai người vin?
 Lòng đau dệt bức gấm
 Lệ rơi khêu gọn đèn
 Soi gương ngỡ người lạ
 Chàng về biết có quên


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét