Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2014

Kỹ niệm chiến thắng 30 - 04 -1975

  Mặc dù bọn mình chưa được sinh ra đời nhưng các bạn thử hình dung giai đoạn lịch sử từ năm 1954 đến 1975, qua bảng chi tiết các lực lượng quân sự trong nước và nước ngoài cùng tham chiến tại Việt Nam, mới thấy sự khốc liệt của nó, thật kinh khủng giống như một trận thế chiến. Vậy mới thấy ý nghĩa của chiến thắng mùa xuân năm 1975 của quân đội nhân dân Việt Nam, ( theo tài liệu của một sĩ quan phía quân đội nước ta, còn số liệu của các trang web nước ngoài thì có khác hơn, tùy theo thống kê của mỗi nước).

* LỰC LƯỢNG QUÂN ĐỘI HOA KỲ THAM CHIẾN Ở VIỆT NAM

  LỤC QUÂN

- Lực lượng Dã chiến I (I.FFV - I Field Force Vietnam), gồm sư đoàn kỵ binh số 1, các sư đoàn bộ binh số 4 và 25, sư đoàn không vận số 101, lữ đoàn không vận số 173, đơn vị pháo binh số 41 và 52.
Thời gian hoạt động ở Việt Nam : 11-1965 đến 4-1971.

- Lực lượng Dã chiến II (II.FFV - II Field Force Vietnam), gồm sư đoàn kỵ binh số 1, các sư đoàn bộ binh số 1, 4, 9, 25, sư đoàn không vận số 101, các lữ đoàn bộ binh số 196 và 199, lữ đoàn không vận số 173, lữ đoàn dù số 3 thuộc sư đoàn không vận số 82, đơn vị pháo binh số 23 và 54.
Thời gian hoạt động ở Việt Nam : 3-1966 đến 5-1971.
- Quân đoàn 24 (XXIV Corps), gồm sư đoàn kỵ binh số 1, sư đoàn bộ binh số 23, sư đoàn không vận số 101, đơn vị pháo binh số 108 và nhiều đơn vị độc lập khác.
Thời gian hoạt động ở Việt Nam : 2-1968 đến 6-1971.
- Lực lượng đặc biệt.

  Các đơn vị của Lục quân :
- Sư đoàn kị binh [không vận] số 1 First Team (9/65 - 6/72).
- Sư đoàn bộ binh số 1 Big Red One (10/65 - 4/70).
- Sư đoàn bộ binh số 4 Ivy Division (9/66 - 12/70).
- Sư đoàn bộ binh số 9 Old Reliables (12/66 - 10/70).
- Sư đoàn bộ binh số 23 Americal (9/67 - 11/71).
- Sư đoàn bộ binh số 25 Tropic Lighting (12/65 - 4/71).
- Sư đoàn không vận số 101 Screaming Eagles (7/65 - 3/72).
- Sư đoàn bộ binh cơ giới số 5 Red Diamon (2/68 - 8/71).
- Lữ đoàn dù số 173 Sky Soldier (5/65 - 8/71).
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 11 (12/67 - 10/71) .
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 196 (8/66 - 6/72) .
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 198 (10/67 - 11/71).
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 199 Redcatcher (12/66 - 10/70).
- Lữ đoàn không vận số 3 (sư đoàn không vận số 82 All American) (2-68 - 12/69).
- Trung đoàn kị binh thiết giáp số 11 Black Horse (8/66 - 3/71).
- Lữ đoàn không quân [trực thăng] số 1 (5/66 - 3/73).
- Đơn vị pháo binh số 23 Steel On Target gồm 13 tiểu đoàn pháo (10/65 - 1/72).
- Đơn vị pháo binh số 41 gồm 10 tiểu đoàn pháo (4/67 - 10/69).
- Đơn vị pháo binh số 52 Big Guns Are Ready gồm 9 tiểu đoàn pháo (6/66 - 6/71).
- Đơn vị pháo binh số 54 Lanyards of Liberty gồm 7 tiểu đoàn pháo (10/66 - 11/69).
- Đơn vị pháo binh số 108 Deeds Above Words gồm 7 tiểu đoàn pháo (10/67 – 11/71).
- Đơn vị pháo binh phòng không số 97 Always On Top gồm 2 tiểu đoàn tên lửa đất đối không Hawk (9/65 - 10/68).
- Lữ đoàn công binh số 18 (8/65 - 7/72).
- Lữ đoàn công binh số 20 (3/66 - 4/72).
- Lữ đoàn quân cảnh số 18 (9/66 - 3/73).
- Trung đoàn đặc nhiệm đường không số 5 (lính Mũ Nồi Xanh - Green Beret).

  Vào thời điểm cao nhất tháng 4-1969, lục quân Mỹ đạt quân số 363.000 người. Trang bị gồm có :
 - Pháo binh : 84 tiểu đoàn với khoảng 1.500 khẩu pháo các loại (chủ yếu là pháo 105mm, 155mm trở lên).
 - Xe tăng thiết giáp : 24 tiểu đoàn với khoảng 2.900 xe tăng, xe bọc thép các loại.

  HẢI QUÂN VÀ THỦY QUÂN LỤC CHIẾN

 - Hạm đội 7 Thái Bình Dương (7th Fleet). Trong chiến đấu cũng từng được tăng cường thêm một số tàu chiến của Hạm đội 5.
Thời gian hoạt động ở Việt Nam : 1964-1973.

 - Bộ tư lệnh lực lượng thuỷ quân lục chiến số 3 (III. MAF - III Marine Amphibious Force) gồm sư đoàn thủy quân lục chiến số 1 và 3, hai trung đoàn tàu đổ bộ, không đoàn hải quân 1, Quân đoàn 24.
Thời gian hoạt động ở Việt Nam : 5-1965 đến 3-1970.
 - Lực lượng cơ động đường sông.

  Các đơn vị chiến đấu của Hải quân và Thủy quân lục chiến :
 - Hạm đội 7.
 - Sư đoàn thủy quân lục chiến số 1 The Old Breed (8/65 - 4/71).
 - Sư đoàn thủy quân lục chiến số 3 Fighting Third (3/65 - 11/69).

 Các đơn vị chiến đấu của hải quân đường sông :
 - Lực lượng đặc nhiệm 115 (Task Force 115).
 - Lực lượng đặc nhiệm 116 (Task Force 116).
 - Lực lượng đặc nhiệm 117 (Task Force 117).

  Vào thời điểm cao nhất tháng 4-1969, hải quân Mỹ đạt quân số 36.000 người và lính thủy đánh bộ 81.800 người, lực lượng phòng vệ bờ biển 400 người. Trang bị khoảng 267 tàu hải quân các loại.
  Lực lượng tác chiến của Hạm đội 7 Mỹ đánh phá miền Bắc Việt Nam thường xuyên có 2-3 tàu sân bay, 15-30 tàu chiến gồm tàu chống ngầm, tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu ngầm. Riêng trong chiến dịch Linebecker-2 tháng 12-1972 có 6 tàu sân bay tham gia.

  KHÔNG QUÂN

 - Bộ Tư lệnh Không quân chiến lược (SAC - Strategic Air Command) (65-73).
 - Bộ Tư lệnh Không quân chiến thuật (TAC - Tactical Air command) (62-73).
 - Bộ Tư lệnh Vận tải hàng không quân sự (MAC - Military Airlift Command).
 - Tập đoàn quân Không quân số 7 (7th Air Force) gồm các không đoàn tiêm kích và tiêm kích bom số 3, số 12, 35, 366, 31, 37; sư đoàn không quân 834 vận tải chiến thuật, 1 không đoàn trinh sát, 2 không đoàn tác chiến đặc biệt và một số đơn vị yểm trợ.
Thời gian hoạt động ở Việt Nam : 4-1966 đến 1-1973.

 - Sư đoàn không quân số 2 .
 - Sư đoàn không quân số 315.
 - Sư đoàn không quân số 83.
 - Sư đoàn không quân vận tải số 834 .

  Vào thời điểm cao nhất tháng 4-1969, Không quân Mỹ đạt quân số 61.400 người.
  Trang bị : 4.050 máy bay trong đó có 768 máy bay chiến đấu và 2.668 máy bay trực thăng.
  Riêng chiến dịch tập kích đường không Linebecker-2 tháng 12-1972 đã huy động 193 máy bay ném bom chiến lược B-52 và 1.077 máy bay tiêm kích, cường kích chiến thuật.

  Mỹ đã huy động vào thời điểm cao nhất 68% lục quân, 40% hải quân, 32% không quân chiến thuật, 50% không quân chiến lược, 45 % pháo binh. Có 3.525.000 lượt quân đã sang tham chiến tại Việt Nam. Trong thời gian chiến tranh, Mỹ đã động viên 8 sư đoàn, 2 lữ đoàn hậu bị, đồng thời huy động 5.000.000 lao động sản xuất cho quốc phòng phục vụ cuộc chiến tranh này.

 * LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ CÁC NƯỚC ĐỒNG MINH CỦA MỸ THAM CHIẾN Ở VIỆT NAM

   HÀN QUỐC

 - Sư đoàn Thủ đô (sư đoàn Mãnh Hổ) (9/65 - 3/73).
 - Sư đoàn bộ binh số 9 (sư đoàn Bạch Mã) (9/66 - 3/73).
 - Lữ đoàn lính thủy đánh bộ số 2 (lữ đoàn Thanh Long) (10/65 - 2/72).
 - Đơn vị Chim Bồ Câu.
 - Một số tiểu đoàn, đại đội binh chủng hỗ trợ (thiết giáp, công binh, pháo binh, quân cảnh…).
 Tổng quân số lúc cao nhất : 50.000 người.

  THÁI LAN

  Lực lượng trên chiến trường Việt Nam gồm :
 - Sư đoàn bộ binh Hắc Báo (7/68 - 12/72).
 - Trung đoàn tình nguyện Hổ Mang (9/67 - 8/68).
 - Một số tiểu đoàn, đại đội binh chủng hỗ trợ.
   Tổng quân số : 13.000 người.
   Lực lượng trên chiến trường Lào thường xuyên có khoảng 10-20 tiểu đoàn bộ binh và một số đơn vị binh chủng.

  AUSTRALIA

 - Trung đoàn bộ binh Hoàng Gia (5/65 - 12/72).
 - 1 tàu khu trục và 1 biên đội máy bay.
 - Một số đơn vị binh chủng hỗ trợ.
  Tổng quân số : 7.000 người.

  PHILLIPINES

Có 1 tiểu đoàn quân báo, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh và bộ phận quân y (9/66 - 12/69).
Tổng quân số : 2.000 người.

  NEW ZEALAND

 Có 2 đại đội bộ binh và 1 đại đội pháo binh (7/65 - 12/71).
 Tổng quân số : 600 người.

 ĐÀI LOAN

Có 29 cố vấn quân sự. Một số trực tiếp chiến đấu với đặc công nước của QĐNDVN hoặc tham gia các chiến dịch biệt kích đường biển của VNCH vào miền Bắc Việt Nam.

* LỰC LƯỢNG QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA TÍNH ĐẾN NĂM 1975

  BỘ BINH

  Có 13 sư đoàn bộ binh, tổ chức thành 4 quân đoàn - quân khu và một số đơn vị độc lập:
  Quân đoàn 1 - Quân khu 1 gồm :
- Sư đoàn bộ binh 1 : trung đoàn bộ binh 1, 3, 51, 54 và thiết đoàn 7.
- Sư đoàn bộ binh 2 : trung đoàn bộ binh 4, 5, 6 và thiết đoàn 4.
- Sư đoàn bộ binh 3 : trung đoàn bộ binh 2, 56, 57 và thiết đoàn 11.
- Lữ đoàn kỵ binh 1.

 Quân đoàn 2 - Quân khu 2 gồm :
- Sư đoàn bộ binh 22 : trung đoàn bộ binh 40, 41, 42, 47 và thiết đoàn 14.
- Sư đoàn bộ binh 23 : trung đoàn bộ binh 44, 45, 53 và thiết đoàn 3.
- Lữ đoàn kỵ binh 2.

 Quân đoàn 3 - Quân khu 3 gồm :
- Sư đoàn bộ binh 18 : trung đoàn bộ binh 43, 48, 52 và thiết đoàn 5.
- Sư đoàn bộ binh 21 : trung đoàn bộ binh 31, 32, 33 và thiết đoàn 9.
- Sư đoàn bộ binh 25 : trung đoàn bộ binh 46, 49, 50 và thiết đoàn 10.
- Lữ đoàn kỵ binh 3.

 Quân đoàn 4 - Quân khu 4 gồm :
- Sư đoàn bộ binh 5 : trung đoàn bộ binh 7, 8, 9 và thiết đoàn 1.
- Sư đoàn bộ binh 7 : trung đoàn bộ binh 10, 11, 12 và thiết đoàn 6.
- Sư đoàn bộ binh 9 : trung đoàn bộ binh 14, 15, 19 và thiết đoàn 2.
- Lữ đoàn kỵ binh 4.

 Các đơn vị bộ binh độc lập khác :
- Sư đoàn Nhảy dù (thuộc lực lượng tổng trừ bị) : lữ đoàn dù 1, 2, 3, 4.
- Sư đoàn Thủy quân lục chiến (thuộc lực lượng tổng trừ bị) : lữ đoàn thủy quân lục chiến 147, 258, 369, 468.
- Sư đoàn biệt động quân : gồm 3 liên đoàn biệt động quân. Được thành lập cuối tháng 4-1975.
- Liên đoàn 81 biệt kích dù.
Lực lượng biệt động quân có 18 liên đoàn : 4, 5, 6, 7, 8, 11, 12, 14, 15, 21, 22, 23, 24, 25, 31, 32, 33, 41.
Lực lượng địa phương quân có khoảng gần 400 tiểu đoàn bảo an. Trong đó một số được tổ chức thành các liên đoàn bảo an (tương đương trung đoàn).

 KHÔNG QUÂN

  Có 6 sư đoàn :
- Sư đoàn không quân số 1 :
+ Không đoàn 41 gồm 2 phi đoàn quan sát (O-1, O-2, U-17), 1 phi đoàn vận tải (C-7A), 1 phi đội trinh sát (EC-47D) và 1 phi đội yểm trợ mặt đất (AC-119K).
+ Không đoàn 51 gồm 5 phi đoàn trực thăng vũ trang (UH-1H) và 1 phi đoàn trực thăng vận tải (CH-47A).
+ Không đoàn 61 gồm 3 phi đoàn cường kích (A-37B) và 1 phi đoàn tiêm kích (F-5A/-B).

- Sư đoàn không quân số 2 :
+ Không đoàn 62 gồm 1 phi đoàn quan sát (O-1, U-17), 2 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H), 1 phi đoàn yểm trợ mặt đất (AC-47D).
+ Không đoàn 92 gồm 3 phi đoàn cường kích (A-37B), 1 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).

- Sư đoàn không quân số 3 :
+ Không đoàn 23 gồm 2 phi đoàn quan sát (O-1, U-17) và 2 phi đoàn cường kích (A-1H).
+ Không đoàn 43 gồm 1 phi đoàn trực thăng vận tải (CH-47A), 4 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).
+ Không đoàn 63 gồm 4 phi đoàn tiêm kích (F-5A/-B/E, RF-5A).

- Sư đoàn không quân số 4 :
+ Không đoàn 64 gồm 1 phi đoàn trực thăng vận tải (CH-47A), 2 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).
+ Không đoàn 74 gồm 2 phi đoàn trinh sát (O-1, U-17) và 3 phi đoàn cường kích (A-37B).
+ Không đoàn 84 gồm 3 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).

 - Sư đoàn không quân số 5 :
+ Không đoàn 33 gồm 2 phi đoàn trinh sát (EC-47D, U-6A), 2 phi đoàn vận tải (C-7A), 1 phi đoàn làm nhiệm vụ đặc biệt (VC-47B, U-17) và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).
+ Không đoàn 53 gồm 2 phi đoàn yểm trợ mặt đất (AC-119K) và 2 phi đoàn vận tải (C-130A).

- Sư đoàn không quân số 6 :
+ Không đoàn 72 gồm 1 phi đoàn quan sát (O-1, O-2, U-17), 1 phi đoàn cường kích (A-1H), 2 phi đoàn và 2 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).
+ Không đoàn 82 gồm 1 phi đoàn cường kích (A-37B), 1 phi đoàn trực thăng vận tải (CH-47A), 1 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).

- Trung tâm huấn luyện không quân : gồm 1 phi đoàn huấn luyện trang bị U-17A và 1 phi đoàn huấn luyện trang bị T-37A, trực thăng UH-1H.
 Về trang bị, không quân VNCH có khoảng 1.800 máy bay các loại, trong đó có khoảng 300 máy bay chiến đấu A-1, A-37, F-5 và 600 trực thăng vũ trang UH-1.

 PHÁO BINH

 - Có 66 tiểu đoàn và trên 160 trung đội pháo binh độc lập với khoảng 1.500 khẩu pháo 105mm, 155mm và một số pháo tự hành 175mm.
 - 7 tiểu đoàn pháo cao xạ và súng máy cao xạ.

  XE TĂNG THIẾT GIÁP

 Có 4 lữ đoàn kỵ binh, 18 thiết đoàn (tương đương trung đoàn thiết giáp) và 57 chi đội (tương đương đại đội) xe tăng thiết giáp với khoảng 600 xe tăng M-48, xe tăng nhẹ M-41 và 1.400 thiết giáp M-113.

  HẢI QUÂN

 Tổ chức hải quân VNCH gồm :
- 5 vùng Duyên hải :
+ Vùng 1 gồm 5 duyên đoàn, 3 giang đoàn và 1 hải đội duyên phòng.
+ Vùng 2 gồm 8 duyên đoàn và 1 hải đội duyên phòng.
+ Vùng 3 gồm 3 duyên đoàn và 1 hải đội duyên phòng.
+ Vùng 4 gồm 4 duyên đoàn và 1 hải đội duyên phòng.
+ Vùng 5 gồm 2 giang đoàn, 2 duyên đoàn và 1 hải đội duyên phòng.

- 2 vùng Sông ngòi :
+ Vùng 3 gồm 4 giang đoàn.
+ Vùng 4 gồm 7 giang đoàn.
- Hành quân lưu động sông gồm :
+ Vùng 3 Sông ngòi.
+ Vùng 4 Sông ngòi.

 Ngoài ra còn có các lực lượng tăng viện thuộc :
+ Lực lượng đặc nhiệm 211 Thủy bộ : gồm 3 liên đoàn với 6 giang đoàn.
+ Lực lượng đặc nhiệm 212 Tuần thám : gồm 6 liên đoàn với 15 giang đoàn.
+ Lực lượng đặc nhiệm 214 Trung ương : gồm liên đoàn người nhái và 3 liên đoàn với 10 giang đoàn.
+ Lực lượng đặc nhiệm 99 gồm 3 giang đoàn.
- Hành quân lưu động biển gồm lực lượng đặc nhiệm 213 Duyên phòng.

- Hạm đội gồm :
+ Hải đội 1 Tuần duyên.
+ Hải đội 2 Chuyển vận.
+ Hải đội 3 Tuần dương.
- Liên đoàn Tuần giang : gồm 24 đại đội tuần giang .
- Lực lượng Hải tuần làm nhiệm vụ đưa biệt kích xâm nhập miền Bắc.
- Hệ thống các căn cứ, công xưởng, đài kiểm báo....
 Hải quân VNCH được trang bị khoảng 1.500 tàu xuồng các loại, trong đó có khoảng 700 tàu chiến trên sông và trên biển.

 Tổng số quân của VNCH khoảng 1,35 triệu người, trong đó quân chính quy 495.000 người, quân địa phương và cảnh sát 475.000 người, phòng vệ dân sự 381.000 người. Nhưng thực tế có khoảng 200.000 là "lính ma".
 Theo đánh giá về trang bị và quân số, VNCH có lục quân "đứng thứ 4 thế giới", không quân "đứng thứ 3 thế giới", hải quân "đứng thứ 9 thế giới".

* LỰC LƯỢNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TÍNH ĐẾN NĂM 1975

 BỘ BINH

 Có 23 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 24 trung đoàn và trên 100 tiểu đoàn bộ binh, được tổ chức thành 5 quân đoàn chủ lực và một số đơn vị độc lập :

 Quân đoàn 1 - binh đoàn Quyết Thắng gồm :
- Sư đoàn bộ binh 308 Quân Tiên Phong : trung đoàn bộ binh 36, 88, 102 và trung đoàn pháo binh 58.
- Sư đoàn bộ binh 312 Chiến Thắng : trung đoàn bộ binh 141, 165, 209 và trung đoàn pháo binh 186.
- Sư đoàn bộ binh 320B Đồng Bằng : trung đoàn bộ binh 27, 48, 64 và trung đoàn pháo binh 54.
- Lữ đoàn bộ binh cơ giới 202.
- Lữ đoàn pháo binh 45 Tất Thắng.
- Sư đoàn phòng không 367.
- Lữ đoàn công binh 299, trung đoàn thông tin 240.

  Quân đoàn 2 - binh đoàn Hương Giang gồm :
- Sư đoàn bộ binh 3 Sao Vàng QK5 : trung đoàn bộ binh 12, 14, 141 và trung đoàn pháo binh 68 .
- Sư đoàn bộ binh 304 Vinh Quang : trung đoàn bộ binh 9, 24, 66 và trung đoàn pháo binh 68.
- Sư đoàn bộ binh 324 Ngự Bình : trung đoàn bộ binh 1, 2, 3 và trung đoàn pháo binh 178.
- Sư đoàn bộ binh 325 : trung đoàn bộ binh 18, 46, 101 và trung đoàn pháo binh 84.
- Lữ đoàn xe tăng thiết giáp 203.
- Lữ đoàn pháo binh 164.
- Sư đoàn phòng không 673.
- Lữ đoàn công binh 219, trung đoàn thông tin 463.

  Quân đoàn 3 - binh đoàn Tây Nguyên gồm :
- Sư đoàn bộ binh 10 : trung đoàn bộ binh 24, 28, 66 và trung đoàn pháo binh 4.
- Sư đoàn bộ binh 316 : trung đoàn bộ binh 148, 149, 174 và trung đoàn pháo binh 187.
- Sư đoàn 320A Đồng Bằng : trung đoàn bộ binh 9, 48, 64 và trung đoàn pháo binh 54.
- Trung đoàn xe tăng thiết giáp 273.
- Lữ đoàn pháo binh 40.
- Trung đoàn pháo binh 675.
- Trung đoàn đặc công 198.
- Trung đoàn phòng không 232.
- Trung đoàn phòng không 234.
- Trung đoàn phòng không 593.
- Lữ đoàn công binh 7, trung đoàn thông tin 29.

  Quân đoàn 4 - binh đoàn Cửu Long gồm :
- Sư đoàn bộ binh 6 QK7 : trung đoàn bộ binh 4, 33.
- Sư đoàn bộ binh 7 : trung đoàn bộ binh 12, 14, 209 và trung đoàn pháo binh 210.
- Sư đoàn bộ binh 341 Sông Lam : trung đoàn bộ binh 266, 270, 273 và trung đoàn pháo binh 55.
- Đoàn xe tăng thiết giáp 26.
- Trung đoàn đặc công 429.
- Lữ đoàn pháo binh 24.
- Lữ đoàn phòng không 71.
- Trung đoàn công binh 25, trung đoàn thông tin 26.

  Đoàn 232 là đơn vị lâm thời, tương đương quân đoàn, gồm :
- Sư đoàn bộ binh 3 Phước Long B2 : trung đoàn bộ binh 201, 205, 271 và trung đoàn pháo binh 262.
- Sư đoàn bộ binh 5 QK8 : trung đoàn bộ binh 1, 2, 3 và trung đoàn pháo binh 42.
- Sư đoàn bộ binh 9 QĐ4 : trung đoàn bộ binh 1, 2, 3 và trung đoàn pháo binh 28.
- 4 trung đoàn bộ binh độc lập.
- 1 trung đoàn và 1 tiểu đoàn phòng không.
- 2 tiểu đoàn xe tăng.

 Đoàn 559 - binh đoàn Trường Sơn là 1 đơn vị đặc biệt, có quy mô tương đương cấp quân khu, tổ chức gồm :
- Sư đoàn bộ binh 968.
- Sư đoàn công binh 470.
- Sư đoàn công binh 472.
- Sư đoàn công binh 473.
- Sư đoàn công binh 565.
- Sư đoàn ô tô vận tải 471.
- Sư đoàn ô tô vận tải 571.
- Sư đoàn phòng không 377.
- Các đơn vị trực thuộc gồm : 7 tiểu đoàn pháo binh, 6 trung đoàn cao xạ, 1 trung đoàn bộ binh, 4 trung đoàn đường ống xăng dầu, 2 trung đoàn cầu, 1 trung đoàn vận tải đường sông, 1 trung đoàn giao liên cơ giới, 1 trung đoàn kho, 1 trung đoàn huấn luyện an dưỡng, 4 đoàn Thanh niên xung phong, một số phi đội trực thăng, máy bay tiêm kích.

   Các đơn vị bộ binh chủ lực độc lập :
- Sư đoàn bộ binh 2 QK5 : trung đoàn bộ binh 1, 31, 38 và trung đoàn pháo binh 368.
- Sư đoàn bộ binh 4 QK9 : trung đoàn bộ binh 2, 10, 20 và 1 trung đoàn pháo binh.
- Sư đoàn bộ binh 8 QK8 : trung đoàn bộ binh 15, 18 và 1 trung đoàn pháo binh.
- Sư đoàn bộ binh 968 Đoàn 559 : trung đoàn bộ binh 19, 29 và 1 tiểu đoàn pháo binh.
- Sư đoàn bộ binh 711 QK5.
- Sư đoàn bộ binh 338 dự bị trên miền Bắc : trung đoàn bộ binh 3, 28, 102 và 1 tiểu đoàn pháo binh.
- Sư đoàn bộ binh 350 dự bị trên miền Bắc.
- Lữ đoàn bộ binh 52 QK5 gồm 4 tiểu đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn pháo binh[6].

  Bộ đội địa phương trên chiến trường miền Nam có 21 trung đoàn bộ binh, khoảng 100 tiểu đoàn bộ binh cùng hàng trăm đại đội, trung đội độc lập.

  XE TĂNG THIẾT GIÁP

  Tổng cộng có 9 trung đoàn, lữ đoàn và đơn vị tương đương cùng. Trong đó có 4 lữ/trung đoàn và đơn vị tương đương của các quân đoàn chủ lực và 5 trung/lữ đoàn trực thuộc binh chủng và quân khu :
- Lữ đoàn xe tăng thiết giáp 201 trực thuộc binh chủng.
- Lữ đoàn xe tăng thiết giáp 215 trực thuộc binh chủng.
- Trung đoàn xe tăng huấn luyện 207 trực thuộc binh chủng.
- Trung đoàn xe tăng thiết giáp 206 QK4.
- Trung đoàn xe tăng thiết giáp 574 QK5.

  KHÔNG QUÂN

  Lực lượng Không quân Nhân dân Việt Nam (thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân) có 4 trung đoàn tiêm kích, 1 tiểu đoàn cường kích, 1 lữ đoàn vận tải và 1 trung đoàn huấn luyện .

- Sư đoàn không quân 371 Thăng Long gồm :
+ Trung đoàn tiêm kích 921 Sao Đỏ trang bị máy bay tiêm kích MiG-21.
+ Trung đoàn tiêm kích 923 Yên Thế trang bị máy bay tiêm kích MiG-17.
+ Trung đoàn tiêm kích 925 trang bị máy bay tiêm kích J-6 (MiG-19 do Trung Quốc sản xuất).
+ Trung đoàn tiêm kích 927 Lam Sơn trang bị máy bay tiêm kích MiG-21.
+ Tiểu đoàn cường kích 929 trang bị máy bay ném bom chiến thuật IL-28.

- Lữ đoàn vận tải 919 gồm :
+ Một tiểu đoàn trang bị máy bay vận tải An-2, An-3, An-24.
+ Một tiểu đoàn trang bị máy bay vận tải IL-14, IL-18, Li-2.
+ Một tiểu đoàn trang bị trực thăng Mi-4, Mi-6, Mi-8.
Một số máy bay An-2 và IL-14 của lữ đoàn 919 được cải tiến để mang bom và rocket.
- Trung đoàn huấn luyện 910 trang bị máy bay tiêm kích huấn luyện MiG-15, MiG-17, MiG-21UM.

 PHÒNG KHÔNG

  Ngoài các sư đoàn phòng không thuộc các đơn vị bộ binh, các đơn vị phòng không độc lập gồm 4 sư đoàn  và nhiều trung đoàn phòng không của quân khu, tỉnh :
- Sư đoàn phòng không 361 Hà Nội.
- Sư đoàn phòng không 363 Hải Phòng.
- Sư đoàn phòng không 365 Bắc Thái.
- Sư đoàn phòng không 375.

  PHÁO BINH

  Binh chủng Pháo binh có 7 lữ đoàn, 28 trung đoàn, 38 tiểu đoàn, 104 đại đội, 14 trung đội, 52 khẩu đội.
Trong đó :
 Pháo binh của bộ đội chủ lực có 7 lữ đoàn, 28 trung đoàn, 17 tiểu đoàn, 6 đại đội. Ngoài các đơn vị pháo binh thuộc bộ binh là các đơn vị pháo binh độc lập thuộc binh chủng, quân khu gồm :
- Trực thuộc binh chủng có các lữ đoàn pháo binh 38, 204, 368 và các trung đoàn pháo binh 154, 166, 208.
- Trực thuộc các quân khu có :
+ Trung đoàn pháo binh 6 thuộc Quân khu 9.
+ Trung đoàn pháo binh 16 thuộc Quân khu Trị-Thiên.
+ Trung đoàn pháo binh 572 và 576 Quân khu 5.
+ 3 tiểu đoàn pháo binh thuộc Quân khu 8.
+ 1 tiểu đoàn pháo binh thuộc Quân khu 6.
+ 1 tiểu đoàn pháo binh độc lập trực thuộc B3.
+ 1 tiểu đoàn pháo binh độc lập quân tình nguyện ở Lào.
+ Đoàn 559 : 7 tiểu đoàn pháo binh.

  Ngoài ra lữ đoàn bộ binh 52 QK5 có 2 tiểu đoàn pháo binh, cùng 6 đại đội pháo binh độc lập thuộc các trung đoàn quân tình nguyện ở Lào.
  Pháo binh của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ có 21 tiểu đoàn, 98 đại đội, 14 trung đội, 52 khẩu đội.

  ĐẶC CÔNG

  Lực lượng đặc công được tổ chức rải khắp các chiến trường, các cấp, riêng trực thuộc binh chủng có 4 tiểu đoàn cơ động, thuộc mặt trận B1, B2, B3, B4 có 8 trung / lữ đoàn và 11 tiểu đoàn đặc công. Tổng lực lượng trên chiến trường miền Nam là 1 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 5 trung đoàn, 36 tiểu đoàn, 121 đại đội và hàng trăm phân đội nhỏ hơn :
 - Sư đoàn đặc công 2 gồm 7 trung đoàn : 10 (đặc công nước), 113, 115, 116, 117, 119, 429.
 - Lữ đoàn đặc công biệt động 316 gồm 4 tiểu đoàn đặc công vùng ven Sài Gòn và 13 cụm biệt động nội đô.
 - Các đơn vị độc lập có các trung đoàn 126 B4 (đặc công nước), 198 B3, 8 QK8, 10 QK9, 367B (F5) và đoàn 1 đặc công biệt động.

 HẢI QUÂN

  Quân chủng Hải quân có 2 trung đoàn tàu chiến, 2 trung đoàn tàu vận tải, 4 vùng hải quân, 2 đoàn và một số tiểu đoàn đặc công thủy, pháo cối.
 - Trung đoàn tàu chiến 171.
 - Trung đoàn tàu chiến 172.
 - Trung đoàn tàu vận tải 125.
 - Trung đoàn tàu vận tải 128.
 - Các vùng hải quân K2, K3, K4, K5 .
 - Đoàn 10 Rừng Sác và đoàn 126 đặc công thủy.

* LỰC LƯỢNG KHỐI CÁC NƯỚC XHCN THAM CHIẾN TẠI VIỆT NAM

 CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

 Từ tháng 06/1965 đến tháng 03/1969, CHND Trung Hoa đưa sang Việt Nam 346 chuyên gia quân sự và 320.000 lượt quân nhân, công nhân xây dựng công trình quốc phòng, làm đường bộ, đường sắt. Những đơn vị đầu tiên sang Việt Nam tháng 06/1965 gồm 4 chi đội (tương đương sư đoàn) công binh 1, 4, 5, 6 được tổ chức thành 22 trung đoàn công binh, trong đó chi đội 1 công binh đảm nhiệm xây dựng đường sắt Lưu Xá - Kép, chi đội 5 công binh đảm nhiệm sửa chữa đường ô tô từ Lào Cai xuống Yên Bái, chi đội 4 công binh đảm nhiệm nâng cấp quốc lộ 3 từ Bờ Đậu - Phú Lương đến Cao Bắc - Ngân Sơn. Ngoài ra còn một số đơn vị công binh đường sắt, công binh không quân, quân y, rà phá mìn của hải quân và công nhân xây dựng với tổng số khoảng 170.000 lượt người.
 Từ cuối năm 1966, một số đơn vị phòng không CHND Trung Hoa cũng được đưa sang Việt Nam làm nhiệm vụ chiến đấu tại khu vực gần biên giới Việt - Trung, những đơn vị đầu tiên là Chi đội (tương đương sư đoàn) 62 phòng không (từ tháng 12/1966 đến tháng 08/1967), Chi đội 170 phòng không (từ tháng 07/1967 đến tháng 03/1968)... Tổng cộng có 16 lượt chi đội với 63 lượt trung đoàn phòng không đã tham chiến ở Việt Nam, với khoảng 150.000 lượt người. Các đơn vị này bao gồm:
 Tại mặt trận phía tây:
- Chi đội 6.
- Chi đội 61.
- Chi đội 67.
- Chi đội 164.
- Chi đội 165.
- Chi đội 166.
 Tại mặt trận phía đông:
- Chi đội 19.
- Chi đội 31.
- Chi đội 32.
- Chi đội 34.
- Chi đội 35.
- Chi đội 37.
- Chi đội 62.
- Chi đội 63.
- Chi đội 163.
- Chi đội 168.
- Chi đội 170.
 Từ tháng 02/1969, toàn bộ các đơn vị CHND Trung Hoa gồm 7 trung đoàn công binh làm đường sắt, 2 trung đoàn công binh sửa chữa đường bộ, 4 chi đoàn cao xạ và một số đơn vị công binh không quân với quân số 114.563 người lần lượt được tổ chức rút về nước và đến tháng 09/1969 hoàn thành rút quân khỏi Việt Nam.
 Trong thời gian ở Việt Nam, các đơn vị CHND Trung Hoa bị tổn thất 771 người chết và 1.675 người bị thương.

 LIÊN BANG CHXHCN XÔ VIẾT

 Từ 1960 đến 1975, Liên bang CHXHCN Xô Viết đưa khoảng 6.500 lượt tướng lĩnh, sĩ quan và 4.500 lượt hạ sĩ quan, binh sĩ sang làm nhiệm vụ tại Việt Nam. Các chuyên gia quân sự Liên Xô đã trực tiếp tham chiến trong các đơn vị tên lửa đất đối không của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong giai đoạn 1965 - 1966. Tổn thất ở Việt Nam là 13 người chết (4 không trong chiến đấu).
 Tại chiến trường Lào, từ 1960 đến 1963, đoàn không quân vận tải Liên Xô gồm 20 máy bay vận tải Li-2, 14 máy bay vận tải IL-14, 10 trực thăng Mi-1 và Mi-4 tham gia phối hợp với Không quân Nhân dân Việt Nam làm nhiệm vụ chi viện cho bộ đội Việt Nam và Lào. Trong thời gian hoạt động có 1 máy bay IL-14 bị bắn rơi làm 6 quân nhân Liên Xô chết.

 CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRIỀU TIÊN

 Từ năm 1966 đến 1969, CHNDND Triều Tiên cử sang Việt Nam 384 chuyên gia quân sự (trong đó có 96 phi công và nhân viên kỹ thuật không quân) và 35 chuyên gia về địch vận, phát thanh. Từ cuối 1966 đến 1967, các phi công và nhân viên kỹ thuật không quân CHNDND Triều Tiên dưới danh nghĩa các đại đội chuyên gia lần lượt được sang Việt Nam và tổ chức thành 2 đại đội MiG-17 và 1 đại đội MiG-21 do Việt Nam trang bị. Các đơn vị này sau đó được tổ chức chung thành đoàn bay Z, đóng căn cứ tại sân bay Kép và được đặt dưới sự chỉ huy của Bộ tư lệnh Sư đoàn Không quân 371 Không quân Nhân dân Việt Nam.
 Trong thời gian tham chiến ở Việt Nam, tổn thất của CHDCND Triều Tiên là 14 phi công chết (trong đó 2 không trong chiến đấu).

 CÁC QUỐC GIA KHÁC

 Các quốc gia khác thuộc khối xã hội chủ nghĩa như Cuba và một số nước Đông Âu cũng cử chuyên gia quân sự sang Việt Nam.





Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

Jiddu Krishnamurti - Sự tĩnh lặng

 Khi bạn nhìn ngắm mà không khởi động tư duy, một niềm vắng lặng lớn đến vào trong bạn. Bộ não tự nó tĩnh lặng, không bất kỳ một phản ứng nào, không một vận động, và kỳ lạ để cảm được cái vắng lặng vô lượng. "Cảm" không phải là ngôn ngữ. Phẩm chất của cái vắng lặng đó, cái ngưng đọng đó thì không được cảm bởi bộ não; nó vượt qua cả bộ não. Não bộ có thể nhận thức, công thức hóa hay vẽ kiểu cho tương lai, nhưng cái tĩnh lặng này vượt ra ngoài phạm vi của nó, vượt ra mọi tưởng tượng, vượt ra mọi thèm khát. Bạn tĩnh lặng đến nỗi thân xác bạn trở thành một phần hoàn toàn của mặt đất, một phần của tất cả những gì tĩnh lặng.

 Và khi ngọn gió nhẹ đến từ các ngọn đồi, lay động lá cây, sự tĩnh lặng này, cái phẩm chất dị thường của vắng lặng này, thì không bị quấy động. Ngôi nhà nằm giữa các ngọn đồi và biển, nhìn ra biển. Và khi bạn nhìn ngắm biển, rất mực tĩnh lặng như vậy, bạn thực sự trở thành một phần của tất cả mọi thứ. Bạn là tất cả. Bạn là ánh sáng, và vẻ đẹp của tình yêu.
Một lần nữa, để nói "bạn là một phần của tất cả" thì cũng sai: chữ "bạn" thì không thích hợp bởi vì bạn thực sự không ở đó. Bạn không hiện hữu. Chỉ có cái tĩnh lặng đó, cái vẻ đẹp, cái nghĩa dị thường của tình yêu bao la...


 Sự tĩnh lặng không loại trừ tiếng ồn, khi tâm ta tĩnh lặng thì mọi thứ, âm thanh, tiếng ồn.... vẫn tĩnh lặng. ..

 Tâm thiền thì im lặng. Không phải sự im lặng mà ý nghĩ có thể nhận biết bằng khái niệm, cũng không phải sự im lặng của một buổi chiều tịch mịch, mà là sự im lặng khi ý nghĩ, với tất cả hình ảnh, ngôn từ và nhận thức của nó hoàn toàn chấm dứt.

 Tâm thiền là tâm đạo, một thứ đạo giáo chưa hề bị thánh đường, đền chùa và sự tụng niệm đụng đến. Tâm đạo là sự bùng nổ của tình yêu. Tình yêu này không hề biết đến phân biệt. Đối với nó xa là gần. Nó không phải cái một hay cái nhiều, mà đúng ra trong trạng thái yêu đó mọi phân chia đều chấm dứt. Cũng như cái đẹp, nó không thuộc về sự đo lường của ngôn từ. Chỉ từ sự im lặng này tâm thiền hoạt động.





 Jiddu Krishnamurti là một trong số những triết gia vĩ đại trong thời đại của chúng ta, ông được xếp là một trong số 5 vị Thánh của thế kỷ 20. Jiddu Krishnamurti sinh năm 1895 tai Andhra Pradesh, Ấn Độ trong một gia đình Bà-la-môn trung lưu. Khi ông được 14 tuổi, các thành viên của Tổ chức Theosophical Society ( còn gọi là Hội Thông Thiên Học Quốc Tế ) trông thấy ông đang đi bộ dọc theo bờ biển và họ đoan chắc rằng họ đã tìm ra được một bậc thầy của thế giới. Sau đó, triết gia Annie Besant  nhận làm cha đỡ đầu của ông và nuôi dưỡng ông tại Anh quốc. Vào những năm 1920, ông tham gia các cuộc thảo luận cùng hàng ngàn khán thính giả. Năm 1929, ông rời bỏ tổ chức Theosophical Society và một mình lên đường tham gia rao giảng khắp thế giới trong vai trò là một người không thân phận, không quốc tịch, không tôn giáo, không truyền thống.

 Krishnamurti đã đi khắp thế giới và rao giảng cùng hàng chục triệu khán thính giả. Các bài thảo luận của ông đã được in ấn thành hơn 70 cuốn sách khác nhau. Ông qua đời vào năm 1986 tại Ojai, California, Mỹ.

 Những tác phẩm tiêu biểu của ông:

 Nghĩ về những điều này
 Thế nào là Tình Yêu
 Bàn về liên hệ
 Bàn về giáo dục
 Cuốn sách của cuộc sống
 Nói chuyện cuối cùng 1985
 Bài diễn văn giải tán hội Ngôi sao
 Tuyển tập Krishnamurti
 Bạn làm gì với đời mình - Chuyên đề đặc biệt dành cho tuổi trẻ
 Cuộc đời phía trước
 Về sống và chết
 Đại bàng cất cánh
 Tự do đầu tiên và cuối cùng
 Giáo dục và ý nghĩa của cuộc sống
 Bàn luận về cuộc sống I
 Bàn luận về cuộc sống II
 Bàn luận về cuộc sống III
 Tự do khỏi tri thức
 Thiền định
 Cuộc cách mạng duy nhất
 Bạn là cả thế giới
 Truyền thống và Cách mạng
 Sự khẩn thiết phải thay đổi
 Câu hỏi không thể
 Khai sáng trí năng
 Khám phá nội tâm
 Toàn bộ cuộc sống
 Ngọn lửa chú ý
 Tương lai là hiện tại
 Mạng lưới suy nghĩ

 Tâm không đo lường 

Vài Bài Thơ Đời Đường Trung Quốc

 Đời Đường ( 618 - 907 ) là một triều đại quan trọng trong lịch sử Trung Quốc, thời kỳ này kinh tế phồn vinh, xã hội ổn định, văn hóa nghệ thuật thu được thành tựu huy hoàng, nhất là thơ ca cổ điển Trung Quốc ở vào thời kỳ phát triển cực thịnh. Sáng tác thơ ca trở thành một trong những nội dung chủ yếu trong hoạt động văn hóa xã hội ở đời Đường, nội dung thi khoa cử của triều đình cũng thay đổi từ thi viết luận văn thành thi viết thơ phú. Trong cuốn sách văn học “Toàn Đường Thi” lưu truyền đến bây giờ, có gần 50 nghìn bài thơ của hơn 2300 nhà thơ.

 VƯƠNG HÀN

 Vương Hàn 王翰 (687-735) tự là Tử Vũ 子羽, người đất Tấn Dương (nay là huyện Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây). Thưở nhỏ, tính hào phóng, thích uống rượu. Ông thi đậu tiến sĩ, làm quan đến chức Giá bộ viên ngoại lang. Vì kiêu căng nên nhiều người ghét, bị đổi ra làm Trưởng sử Nhữ Châu, sau đổi làm Biệt giá Tiên Châu, rồi bị biếm làm Tư mã Đạo Châu và mất tại đây.

  LƯƠNG CHÂU TỪ

 Bồ đào mỹ tửu , dạ quang bôi
 Dục ẩm , tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?

 LƯƠNG CHÂU TỪ

 Đây rượu bồ đào , đây chén ngọc
 Muốn say đàn đã giục ra đi
 Ai cười chiến địa mình say ngủ
 Chinh chiến xưa nay mấy kẻ về



 THÔI HIỆU ( ? -754 )

 Người Biện Châu nay là huyện Khai Phong tỉnh hà Nam . Đậu tiến sĩ, tính lãng mạn, cờ bạc rượu chè hay rầy vợ làm đến chức Tư Huân Viên Ngoại Lang


 HOÀNG HẠC LÂU

 Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
 Thử địa không dư hoàng hạc lâu
 Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
 Bạch vân thiên tải không du du
 Tình xuyên lịch lịch hán dương thụ
 Phương thảo thê thê oanh vũ châu
 Nhật ngộ hương quan hà xứ thị
 Yên ba giang thượng sử nhân sầu

  LẦU HOÀNG HẠC

 Người xưa cởi hạc đến nơi đâu
 Hoàng hạc còn đây một mái lầu
 Hạc đã một đi không trở lại
 Mênh mang mây trắng xóa ngàn thâu
 Hán Dương sông tạnh , cây in sắc
 Anh vũ bờ thơm, cỏ biếc màu
 Chiều tối trông vời đâu cố quân ?
 Trên sông khói sóng giục ai sầu

 Ghi chú : Lầu Hoàng Hạc ở Vũ Xương, trước thời Ngô Phù Sai nơi đây chỉ là một cồn đất hoang.  Một buổi sáng hôm ấy ánh vàng trải đầy thảm cỏ Ngô Vương ngự chơi Động Đình hồ, ghé vùng Vũ Xương bỗng nhiên thấy một con hạc vàng lớn bay lên trời, vua sai lập một lầu cao để thờ hạc, từ đó lầu Hoàng Hạc được dựng nên.  Qua bao thế hệ và những bước thăng trầm của lịch sử lầu Hoàng Hạc đă bị lăng quên.  Đến đời sơ Đường, Thôi Hiệu đến đây đề thơ "Hoàng Hạc Lâu."  Lầu Hoàng Hạc đă sống lại và đi vào lịch sử.  Bài "Hoàng Hạc Lâu" này là một trong những tuyệt tác của thể thơ Thất Ngôn Bát Cú do thi nhân Thôi Hiệu viết vào đời Sơ Đường.  Tương truyền Lư Bạch một hôm ghé thăm lầu Hoàng Hạc, thấy phong cảnh nên thơ, ông liền phóng bút viết vài câu thơ nhưng chợt thấy bài "Hoàng Hạc Lâu" khắc ở trên tường v́ kính nể tiền nhân nên ông ngửa mặt than rằng: "Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất đắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu..." (Xa xa phong cảnh hữu t́ình, Tiếc thay Thôi Hiệu đả đính thơ trên).  Đại văn hào Nguyễn Du của Việt Nam ta cũng có lần ghé thăm Lầu Hoàng Hạc, cảm xúc hai câu cuối của bài thơ vì nỗi nhớ nhà nên ông đả họa lại hai câu đặc sắc là : "Thi thành thảo thụ giai thiên cổ, Nhật mộ hương quan cộng nhất sầu..." (Thơ truyền cây cỏ cùng muôn thuở, Bóng xế quê hương một nỗi niềm)...



 PHONG KIỀU DẠ BẠC

 Nguyệt lạc, ô đề sương mãn thiên
 Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên
 Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
 Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

 BAN ĐÊM ĐẬU THUYỀN TẠI SÔNG KIỀU

 Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
 Lửa chài , cây bến , sầu vương giấc hồ
 Thuyền ai đậu bến Cô Tô
 Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

                                                       Tản Đà dịch

 THÔI HỘ

 Tự là Âu Công người quận Bác Lăng nay là huyện Định Tính Trực Lệ lận đận khoa cử mãi đến năm thứ 12 niên hiệu Trinh Nguyên( 796 ) mới đậu tiến sĩ làm đến chức Tiết độ sứ lĩnh nam.

 ĐỀ ĐÔ THÀNH NAM TRANG

 Khứ niên kim nhật thử môn trung
 Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
 Nhân diện bất tri hà xứ khứ ?
 Đào hoa y cựu tiếu đông phong

 THƠ ĐỀ PHÍA NAM ĐÔ THÀNH

 Cửa này, năm ngoái, hôn nay
 Hoa đào phản chiếu mặt ai ửng đào
 Mặt người giờ ở nơi nao
 Hoa đào vẫn đó cười , chào gió đông



 Thôi Hộ là thi sĩ đẹp trai phong lưu nhưng ít giao du. Một hôm nhân tiết thanh minh dạo chơi ngoài thành , thấy một vườn hoa đào nở tươi thắm bèn gõ cửa vào xin nước uống, đồng thời để được thưởng hoa . Một người con gái mặt đẹp như hoa đào ra mở cửa hỏi rồi đem nước mời uống . Tiết thanh minh năm sau Thôi Hộ nhớ lại chuyện xưa bèn tìm lại nơi kỳ ngộ thì thấy cửa đóng then cài , chàng để lại một bài thơ ở cửa rồi đi . Mấy hôm sau lại đến thì chợt nghe có tiếng người khóc. Một ông lão ra hỏi có phải là Thôi Hộ không , rồi kể lể sự tình : Con gái cụ khi đọc bài thơ thì đã nhịn đói mà chết . Thôi Hộ vào khấn trước xác người con gái còn tươi như hoa. Cô gái sống lại cùng họ Thôi kết duyên chồng vợ
 Đây là bài thơ tuyệt tác oan nghiệt của Thôi Hộ

  LÝ BẠCH ( 701 – 762 )

 Truyền thuyết kể rằng :  Thân mẫu nằm mộng thành sao Trường canh rồi sinh ra ông nên ông lấy tên tự là Thái Bạch

 Lý Bạch thông minh đĩnh ngộ là người hào hiệp cao nghĩa khinh tài trọng thí. Có đến làm dưới trướng của thứ sử Ích Châu Tô Đình được khen là thiên tài có thể sánh vai với Tư Mã Tương Như. Đi ngao du nhiều nơi. Kết bạn với các danh thơ nỗi tiếng Trung Hoa.

 Bị bệnh mất vào năm 762 thọ 62 tuổi . Có thuyết khác theo Đỗ Phủ , Vương Đình Bảo và Hồng Đông Trai thì Lý Bạch chết đuối tại sông Thái bạch ( huyện Đang Đồ ) trong khi say rượu . Tục truyền rằng Lý Bạch uống rượu say cúi xuống sông bắt lấy bóng trăng do đó chết đuối . Tại nơi này có một cái đài gọi là Tróc Nguyệt Đài ( Đài bắt trăng )



  KÝ VIỄN

  Mỹ nhân tại thời hoa mãn đường
  Mỹ nhân khứ hậu dư không sang
  Sàng trung tú bị quyển bất tẩm
  Chi kim tam tải văn dư hương
  Hương diệc cánh bất diệc
  Nhân diệc cánh bất lai
  Tương tư hoàng diệp tận
  Bạch lộ thấp thanh đài

  GỬI NGƯỜI ĐI XA

  Người đẹp còn đây nhà đầy bông
  Người đẹp đi rồi giường bỏ không
  Trên giường chăn nệm không ai ngủ
  Nay đã ba năm hương còn nồng
  Hương không bay đi mất
  Người xa không trở về
  Nhớ nhau lá vàng rụng
  Rêu xanh ướt não nề

  KHUÊ TÌNH

  Lưu thủy khứ tuyệt quốc
  Phù vân từ cố quận
  Thủy hoặc luyến tiền phố
  Vân do quy cựu san
  Hận quân lưu sa khứ
  Khí thiếp Ngư Dương gian
  Ngọc trợ dạ phù lưu
  Song song lạc chu nhan
  Hoàng điểu tọa tương bi
  Lục dưỡng thùy cánh phan
  Chúc cẩm tâm thảo thảo
  Phiêu đăng lệ ban ban
  Khuy kính bất tự thức
  Huống nãi cuồng phu hoàn

 TÌNH TRONG PHÒNG KHUÊ

 Nước đến nơi xa thẳm
 Mây từ biệt ải xưa
 Nước còn thương bến cũ
 Mây còn về núi nhà
 Lưu Sa chàng lận đận
 Ngư Dương thiếp xót xa
 Đêm đêm tuôn đũa ngọc
 Hai hàng trên mặt hoa
 Chim cùng ta sầu khổ
 Cành liễu ai người vin?
 Lòng đau dệt bức gấm
 Lệ rơi khêu gọn đèn
 Soi gương ngỡ người lạ
 Chàng về biết có quên


Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

Giúp Con Đối Phó Tệ Nạn Bắt Nạt

 Bài viết của Sarah Trần, Giáo viên bang Ontario, thành phố Toronto, Canada

 Ngày nay, trường học được xem như là một thế giới thu nhỏ của xã hội đa văn hóa dành cho trẻ em và thanh thiếu niên. Các em được tiếp xúc với nhiều người có những cảm nhận ngoại hình cơ thể, cấu trúc gia đình, chủng tộc, sắc tộc, giới tính, địa vị xã hội và khả năng kinh tế khác nhau, hệt như trong thế giới ta đang sống.
 Tuy nhiên, cách hành xử không thích đáng như hành động bắt nạt là sự thiếu tôn trọng cái đa dạng của xã hội và đồng thời hủy hoại cuộc sống của những nạn nhân. Trẻ em có quyền được cảm thấy an toàn ở mọi nơi. Với tư cách là cha mẹ và người giám hộ, bạn có thể đóng vai trò tích cực trong việc giúp con em mình đối phó với tệ nạn bắt nạt. Điều quan trọng là tạo được sự tin tưởng giữa bạn, những người lớn và con em bạn, để các em cảm thấy thoải mái và tìm đến bạn trong những trường hợp cần giúp đỡ khi bị bắt nạt. 
Bắt nạt là gì?
 Trong Đạo Luật Giáo Dục Ontario, bắt nạt được định nghĩa như sau:
 Bắt nạt là hành vi hung hăng được lặp đi lặp lại nhiều lần; với mục đích gây tổn hại, sợ hãi, đau khổ, hoặc tạo ra môi trường tiêu cực trong trường học cho người khác. Bắt nạt xảy ra khi một người tự cho mình quyền sai khiến hoặc chế ngự người khác, trong khi thực tế họ không có quyền làm như vậy. 
 Những năm gần đây, cùng với việc tiếp cận công nghệ và truyền thông xã hội dễ dàng, bắt nạt không còn là vấn nạn chỉ có trong khuôn viên trường học. Bắt nạt có thể hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau:
• Thể chất – đánh đập, xô đẩy, trộm cắp hoặc phá hoại tài sản.
• Lời nói – mạ lỵ, chế giễu hoặc đưa ra những bình luận có thành kiến về giới tính, chủng tộc hoặc đồng tính.
• Xã hội – loại trừ người khác ra khỏi nhóm hoặc phao tin đồn về họ. 
• Điện tử (thường được gọi là bắt nạt trên mạng) – phao tin đồn và những bình luận gây tổn thương qua việc sử dụng email, điện thoại và gửi tin nhắn. 
Làm sao tôi biết được con mình đang bị bắt nạt?
 Trẻ em có thể cảm thấy mắc cỡ khi kể với cha mẹ hoặc người lớn rằng mình đang bị bắt nạt vì sợ làm cho tình hình thêm tồi tệ. Các bạn trẻ có thể cảm thấy xấu hổ khi để cha mẹ can thiệp vào tình huống mà họ muốn được giải quyết theo cách riêng của họ. Đừng để sự im lặng của con em bạn kéo dài. Hãy lưu ý đến một số dấu hiệu chứng tỏ con em bạn có thể đang bị bắt nạt như sau: 
• Mất mát hoặc thiệt hại tài sản cá nhân như tiền bạc, quần áo, đồ chơi, sách vở, thiết bị điện tử.
• Cố tình tránh né các hoạt động xã hội như đi chơi với bạn bè.
• Miễn cưỡng, không muốn đi học; đề cập đến cảm giác ghét trường học.
• Giả bệnh để tránh đi học.
• Lảng tránh các cuộc nói chuyện về những gì đang xảy ra trong trường học.
• Kết quả học tập thấp kém.
• Những vết thương không có lý do như vết bầm tím và trầy xước.
• Các hành vi tự làm tổn hại bản thân như bỏ nhà đi, tự gây thương tích, nói về ý định tự tử.
 Người lớn có thể cảm thấy bất lực khi can thiệp vào chuyện bắt nạt, nhưng việc giải quyết tình huống bắt nạt cùng con em mình với tinh thần đồng cảm và hợp tác sẽ giúp bạn và con em bạn tăng thêm nguồn sức mạnh. Điều quan trọng là lắng nghe các em với tinh thần cởi mở để chúng có thể cảm nhận được sự thấu hiểu và quan tâm từ bạn. Điều tồi tệ nhất mà bạn có thể nói với con mình khi chúng bị bắt nạt là “phớt lờ nó đi” hay “hãy tử tế thì nó sẽ không bắt nạt con nữa đâu”. Khi bạn biết con mình đang bị bắt nạt, hãy làm những điều sau đây:
• Khuyến khích con em mình kể về chuyện bị bắt nạt với bạn, anh chị em hay bạn bè để chúng không cảm thấy cô độc.
• Cảm ơn chúng vì đã tin tưởng và kể cho bạn nghe, và hãy nói rằng đó không phải là lỗi của chúng. Đồng thời, hãy nói với các em là bạn sẽ cùng chúng vạch ra kế hoạch để giảm bớt tác hại của việc bị bắt nạt.
• Khuyên con em bạn theo những kế hoạch sau đây: Hãy bỏ đi khi tình trạng trở nên tồi tệ – Không phản ứng với chuyện bắt nạt bằng cách đánh trả, gây sự lại, hoặc trả lời tin nhắn của kẻ bắt nạt. Hãy khuyên con em bạn nói chuyện với một người nào đó mà các em tin tưởng hoặc gọi điện đến đường dây hỗ trợ Kids Help Phone (1-800-668-6868) để kể, một cách ẩn danh, về tình trạng bị bắt nạt.
• Sắp xếp một cuộc hẹn với giáo viên, hiệu trưởng hay phó hiệu trưởng để trình bày sự việc. Các nhân viên trong trường học đã được đào tạo để giúp ngăn chặn những hành vi bắt nạt, và sẽ nỗ lực điều tra trong khi vẫn bảo vệ sự riêng tư của con bạn. 
• Nếu hành vi bắt nạt liên quan đến hoạt động phạm pháp như tấn công tình dục hay sử dụng vũ khí, hãy liên lạc ngay với cảnh sát.
  Cần có một tập thể người lớn cũng như trẻ em có lòng tin vào nhau và cùng nhau đứng lên để chống lại những hành vi không thể chấp nhận được như tệ nạn bắt nạt. Hãy đóng vai trò tích cực trong việc giúp các em đối phó với chuyện bị bắt nạt. Qua sự hợp tác giữa các phụ huynh với giáo viên, bạn sẽ tạo được nơi các em sự tin tưởng là người lớn sẽ có những kế hoạch hiệu quả trong việc chặn đứng tệ nạn bắt nạt.

 



2 yếu tố tồn tại của loài người

Giả thuyết về 2 yếu tố tồn tại của loài người

 Trên trái đất, có thể con người là một loài thú vị nhất bởi lẽ loài này là trung tâm của các trạng thái “ hỷ, nộ, ái, ố” và là trung tâm của các hoạt động khám phá. Tuy nhiên trong vũ trụ liệu loài này có phải là thú vị nhất hay không thì hiện vẫn chưa có câu trả lời chính xác, bởi những gì ngoài trái đất là bao la và có thể là vô tận. Trong phạm vị trái đất, việc tìm hiểu sâu về sự tồn tại hay sự tiến hóa của loài người là vấn đề cực kỳ quan trọng, vì nó góp phần giúp con người tự điều chỉnh cho phù hợp với sự tiến hóa và thuận lợi cho họ trong quá trình chuyển hóa ở những bước tiếp trong quá trình tồn tại và tiến hóa. Việc ý thức được sự tiến hóa cũng giúp cho con người hóa giải những muộn phiền trong cuộc sống đời thường.
 Từ thực tế rằng sự tồn tại của loài người bao gồm 02 yếu tố là hữu hình và vô hình, xin giới thiệu một giả thuyết về loài người như sau :

 

Hàng ngày, con người sử dụng năng lượng hữu hình được hình thành từ các nguyên tố hóa học dưới tác động của các liên kết; và loại năng lượng này có thời gian tồn tại rất ngắn trong nội tại của mỗi phần tử trong tập hợp loài người. Giả thuyết có một loại năng lượng quyết định sự tồn tại và tiến hóa của loài người đó là năng lượng tâm linh (NLTL), như trong công thức trên, và đó là cái còn lại của mỗi người sau khi năng lượng hữu hình tan biến.

 Mỗi giây vận động của loài người thì sẽ có một lượng NLTL được tích lũy. Mức NLTL mà mỗi người tích lũy được trong mỗi giai đoạn tồn tại sẽ quyết định sự tiến hóa tiếp theo của người đó.

 NLTL gồm có hai loại là NLTL âm và NLTL dương. Đương nhiên, giá trị của NLTL tỉ lệ thuận với sự tiến hóa


Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2014

Phương tiện biện minh cho cứu cánh

Cứu cánh biện minh cho phương tiện :

 Hiện nay có khá nhiều người sử dụng câu thuật ngữ : "Cứu cánh biện minh cho phương tiện" cho có vẽ " triết lý " gồm đủ mọi giới, sang giàu có, bình dân cũng có, họ dùng câu này, mọi lúc, mọi nơi mà chẳng biết câu này xuất phát từ đâu, có nghĩa là gì, đơn giản chỉ thích nói cho hay, hay.

 Một anh sinh viên mượn xe tay ga của bạn để đến nơi hẹn với bạn gái, vì quá gấp gáp nên để xe tông vô người khác, thế là anh ta bị CSGT phạt giam xe, bồi thường tiền thuốc cho nạn nhân, hỏi sao anh không đi chiếc xe cũ cà tàng, đở phải bị mang họa, anh ta thở dài nói : "Cứu cánh biện minh cho phương tiện". Vậy cái "cứu cánh " của anh ta chỉ là muốn nở mặt với bạn gái mới quen !

 Một cô giáo dạy trẻ cứ đè con nít ra trấn nước, ép ăn, đánh, tát tay vô mặt ... đến chừng bị bắt đưa ra tòa thì cũng than vãn : "Cứu cánh biện minh cho phương tiện !" . Cứu cánh của bả là muốn các bé phải nghe lời mình, phải ngoan, còn phương tiện là đánh và trấn nước. Lúc vô tù ngồi thì không có "cánh" nào "cứu" nổi bả.

 Một cô gái quê học hành thì vừa đủ lên chat yahoo, facebook ... biết tiếng Anh tàm tạm như : what, why, with, how... cô ta được trời cho da trắng đẹp mịn màng, chân dài, eo thon, ngực to. Hể lên mạng là cởi quần áo mà post, được thời gian câu được nhiều quý ông tài trợ, rồi được lăng xê thành người mẫu, càng nỗi tiếng càng cởi mở nhiều hơn. Nhiều người hỏi " Tại sao đăng hình lên là phải bỏ hết quần áo ? " Cô ta trả lời : " Cứu cánh biện minh cho phương tiện !". Phương tiện là "khoe hàng". Còn "cứu cánh" chỉ đơn giản là có thật nhiều tiền thế thôi. Châm ngôn chính : "Không có tiền thì cạp đất mà ăn à !"....

 Ngày xưa thầy dạy môn văn của mình lúc học lớp 9, dáng thầy gầy gò, hiền lành, có vẽ khắc khổ, nhưng thầy dạy rất hay. Thầy đến trường bằng chiếc xe đạp Martin củ mèn, thầy vẩn vui vẻ, vẩn lạc quan, yêu đời, yêu thương học trò, ai nói xấu, chê bai, gì thầy mặc kệ. Thầy thường nói vui rằng : "Thầy chẳng có phương tiện, nên chẳng có cứu cánh gì hết ráo".

 Theo một số tài liệu thì câu nói "cứu cánh biện minh cho phương tiện" có từ thời Phục Hưng, xuất phát từ nhà triết học, kiêm chính trị gia La Mã Niccolo Machiavelli (1469-1527)  người được coi là một trong những cha đẻ của chính trị học hiện đại. Quan điểm của Machiavelli về chính trị có ảnh hưởng sâu rộng trên khắp Châu Âu từ thế kỷ 16 đến nay, tạo nên một kiểu nhận thức chính trị được gọi là “xu hướng Machiavelli” (Machiavellianism).

 Xu hướng này lộ rõ trong các tác phẩm của Machiavelli, nổi bật là cuốn “The Prince” ( Quân Vương ), trong đó tác giả thể hiện thái độ chấp nhận, thậm chí cổ võ cho những nhân vật có quyền lực nhưng vô đạo đức. Từ đó sản sinh ra thuyết “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” (the end justifies the means) và hình thành nên một cách hiểu khái niệm “chính trị” theo hướng tiêu cực, như Bách khoa toàn thư Wikipedia đã giải thích:
  “Machiavelli là nhà tư tưởng chính trị độc nhất mà tên tuổi của ông đã được sử dụng phổ biến để ám chỉ một kiểu chính trị được hướng dẫn thuần tuý bởi việc sử dụng mọi thủ đoạn để đạt tới mục đích, bất chấp phương tiện là tốt hay xấu”.


 
 Do đó câu : “The end justifies the means” thường được sử dụng cho các nhà chính trị, quân sự, luật sư, giáo sư... chứ giới bình dân rất ít biết đến.

 Theo tiếng Tiếng Pháp gọi là :  "La fin justifie les moyens " được dịch ra Việt ngữ : Cứu cánh biện minh cho phương tiện - hoặc những cách dịch khác : Mục đích biện minh cho phương tiện – Mục đích cuối cùng biện minh cho phương tiện – Kết quả biện minh cho phương tiện…- Pháp Việt Từ điển của Đào Đăng Vỹ giảng : “Để đạt mục đích phương tiện gì cũng tốt ”.

 Hán Việt Từ điển của Thiều Chửu cắt nghĩa: – Cánh : trọn; hết; xong; dùng làm trợ từ như tất cánh, cứu cánh : xét hết, kết cùng, xét đến cùng tột.

 Hán Việt Từ điển của Đào Duy Anh giải thích cánh là cuối cùng, xong được rồi và nêu thí dụ cứu cánh mục đích là cái mục đích cuối cùng (le but final).

 Thông thường người ta hiểu mục đích (but) và cứu cánh (but final) cùng nghĩa - chỉ cái đích nhắm tới, tuy nhiên mục đích chỉ đích nhắm gần truớc mắt, chỗ mình muốn đi tới.

 Cứu cánh cho khái niệm xa hơn - mốc định hướng vươn tới còn ở tận cùng - điều mà người ta nhắm vào đó, theo đuổi và phấn đấu đạt tới trong công việc hay trong đời sống. Tuy nhiên mục đí xấu thì không thể gọi là " cứu cánh " được, kẻ có mục đích xấu tất nhiên phương tiện của họ cũng xấu theo, như vậy cái " cứu cánh " đưa con người đến tội ác, tù tội, đến thói khoe khoang, vô đạo đức ... thì nên gọi nó là " tham lam, si mê biện minh cho phương tiện ".

 Phương tiện biện minh cho cứu cánh :

 Trong những thí dụ nêu trên “cứu cánh” còn được hiểu là phương tiện cứu giúp, nâng đỡ - là “cái gì đó cứu được mình mặc dù chẳng hiểu được cái phương tiện cứu mình biện minh cho phương tiện nào” – là “chỗ dựa có thể cứu giúp cho thoát khỏi tình cảnh không hay nào đó”…

 Đối với một người có lý tưởng tốt đẹp, ví như một Phật tử chân chính thì cái "cứu cánh" trong tâm họ đã có sẵn và rõ ràng, cho nên  tất cả các phương tiện đều tốt đẹp, đều biện minh cho "cứu cánh " của mình, có khi họ phải bị người đời chê bai, miệt thị. Thay vì nói "cứu cánh biện minh cho phương tiện", ta phải nói "phương tiện minh họa cho cứu cánh". Điều này hiện rõ nét trong tinh thần Phật giáo chân chính.

 - Các Pháp Phương Tiện :
  1) Pháp tu Thập Thiện và "Bát Chánh Đạo"
  2) Niệm Phật : Dùng pháp niệm Phật làm diệu dược để trị lành mọi chứng bịnh loạn tưởng, khi bịnh lành thuốc cũng bỏ. Tức là niệm Phật đến chỗ vô niệm, chỉ còn Nhứt Tâm Chơn Như.
  3)- Tĩnh Tâm và Thiền (Zen) ...
 
 


Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

11 bài học phụ nữ thế kỷ 21 có thể học được từ Jane Eyre

                              Bài viết của Hanah Lee
 Tính đến 2014, tác phẩm “Jane Eyre” của nhà văn nữ Charlotte Brontë được xuất
bản đã 167 năm. Tôi là người cực kỳ mê thích nền văn học thời kỳ Victoria, nhưng
“Jane Eyre” đã ghi đậm dấu ấn trong tôi, một ấn tượng mà chưa từng có cuốn tiểu
thuyết nào tôi đã từng đọc trước đó làm được. “Jane Eyre” không chỉ là một cuốn
tiểu thuyết lãng mạn thời trung cổ mà nó còn là một câu chuyện giáo dục nhân
cách cho lứa tuổi sắp bước tới ngưỡng cửa trưởng thành. Nó gần như là cuốn tiểu
thuyết đầu tiên viết về cuộc đời của một phụ nữ có xuất thân hèn kém. Những suy
nghĩ và cảm xúc của người phụ nữ được bộc lộ rõ. Brontë đã được coi như là “một
sử gia về ý thức cá nhân.”


 Jane Eyre là một nhân vật nữ chính độc đáo. Cô không đẹp, diện mạo khá là thô.
Cô là người chịu nhiều thua thiệt, điều này bạn đọc có thể nhận thấy trong suốt
cả chiều dài tác phẩm. Jane Eyre đã tìm cách vượt qua được quá khứ rối loạn, bần
cùng. Cô đã làm điều đúng đắn cho chính mình. Cô là một ví dụ điển hình cho
những người phụ nữ mạnh mẽ. Cô chỉ cho ta thấy được tầm quan trọng của việc tự
lực cánh sinh. Cô tự cổ vũ mình mỗi khi phải thực hiện việc mà đối với một người
phụ nữ là cực kỳ khó khăn. Tất cả những điều ấy khiến tôi thích “Jane Eyre”.
Khi được ra mắt công chúng, cuốn tiểu thuyết đã tạo nên một chấn động lớn. Có
một người viết bài điểm sách đã bình luận rằng tác phẩm này “có lẽ được viết bởi
một người phụ nữ chứ không phải là một tiểu thư.” Mọi người thấy chướng tai gai
mắt trước việc Eyre trở lại với Rochester. Ấy vậy mà, ấn bản đầu tiên của tác
phẩm vẫn được bán sạch trong vòng có sáu tuần lể.
 Cứ mỗi khi tôi gặp phải một phụ nữ chưa từng đọc qua cuốn tiểu thuyết này, ngay
lập tức tôi khuyên cô ấy nên đọc liền.
Giới nữ có thể học được rất nhiều điều từ nhân vật chính Jane Eyre tuyệt vời. Và
dưới đây là một số bài học sáng suốt được rút ra từ tác phẩm:

                                                          Phim điện ảnh Jane Eyre (1944)

1. Bạn có thể tìm được cách vượt qua quá khứ của mình, bất luận nó có tệ hại đến 
đâu đi nữa.

 Thuở ấu thơ, Jane Eyre bị những người bà con xấu xa của mình hành hạ và làm cho
khốn khổ. Trong suốt nửa đầu cuốn truyện, cô đã khóc rất nhiều trước những cư xử
tàn nhẫn của những người nuôi nấng mình. Ông anh họ John là kẻ độc ác nhất. Anh
ta thường xuyên khiến cô nhớ lại rằng mình là một đứa trẻ mồ côi, đám trẻ con
không cho cô chơi cùng, cô bị nhốt trong căn phòng nơi chú cô qua đời. Thoạt
tiên, Jane nuôi lòng oán giận. Trước khi rời nhà vào trường nội trú, cô đối mặt
người cô của mình và về căn bản đã cắt đứt cái gia đình ấy khỏi cuộc đời của
mình. Có ai mà sẽ không làm như thế? Nhưng cô đã học được rất nhiều về sự buông
bỏ khi cô được gửi tới trường nội trú và kết bạn với một cô gái ốm yếu có tên
Helen. Như lời của Helen, “cuộc sống đến với tôi quá ngắn ngủi nên không thể
tiêu phí cho việc nuôi dưỡng lòng thù hận hay ghi nhớ những lỗi lầm.”

2. “Ý chí của bạn quyết định vận mệnh của bạn.”

 Bạn có thể làm vất cứ việc gì bạn muốn. Điều đó là ở bạn và mức độ mong muốn
thực sự của bạn với chuyện gì đó sẽ quyết định chuyện ấy có diễn ra hay không.
Jane phải đối mặt với rất nhiều nghịch cảnh lúc còn trẻ. Mọi người thường xuyên
đối xử tệ với cô và cô luôn bị có cảm giác rằng mình chả có gì đáng kể. Nhưng cô
tin tưởng vào chính mình và khả năng của bản thân để tìm được cách vượt qua nó.
Bất chấp việc không có gia đình, không có tiền bạc, cô vẫn tìm được việc gia sư
và xoay xở sống tốt được. Và bạn có biết gì không? Mặc dù những điều tồi tệ xảy
đến với cô hầu như trong suốt tác phẩm, Jane vẫn tiếp tục sống và về sau được
hưởng hạnh phúc mãi mãi.

3. Hãy nói với anh chàng đó rằng bạn đã có ý muốn hẹn hò với anh ta!

 Jane nói, “’… đối với tất cả phụ nữ, để cho một tình yêu thầm kín nhen lên trong
lòng là một sự điên rồ, tình yêu ấy, nếu như không được đáp lại hay không được
biết đến, chắc chắn sẽ tàn phá cuộc đời người nuôi dưỡng nó, còn nếu như được
phát hiện và được đáp trả, giống như ma trơi, ắt hẳn sẽ dẫn tới những hành vi đê
tiện và do đó sẽ không có lối thoát.” Thầm yêu trộm nhớ một anh bồi trong quán
café hay một người bạn vẫn gặp mỗi ngày trên tàu điện ngầm sẽ chẳng đưa bạn tới
đâu cả. Hãy đề nghị với anh ta một buổi đi chơi. Điều đó sẽ bớt đau khổ hơn
nhiều so với việc cứ đứng ở xa xa rồi đặt hy vọng trong im lặng.


                                                       Phim điện ảnh Jane Eyre (1996)

4. Yêu thương và tôn trọng bản thân là cần thiết và đó là điều cốt yếu đối với 
sự độc lập.

 Khi trong đầu tất cả chúng ta cứ vấn vương mãi câu hỏi ai sẽ chăm nom Jane bây
giờ khi cô phải rời xa Rochester, cô đã trả lời rằng, “tôi tự chăm sóc bản thân.
Càng cô độc, càng không có bạn bè, tôi càng không chịu khuất phục, tôi sẽ càng
tôn trọng bản thân mình.” Jane biết nếu cô kết hôn với người đàn ông đã có hôn
thú với người khác này là sai trái cho dù cô yêu ông nhiều đến cỡ nào đi chăng
nữa. Cô yêu thương và tôn trọng bản thân mình thật nhiều nên không thể kết hôn
với người đã khiến cô mê muội đến thế (mặc dầu tôi biết, tôi biết về sau Jane sẽ
kết hôn với ông ấy. Nhưng vào thời điểm đó, cô đã có đủ thời gian để suy ngẫm và
thông suốt tình thế và đi đến kết luận của riêng mình, thà để cho Rochester
thuyết phục cô rằng việc kết hôn sẽ không có vấn đề gì còn hơn).

5. Hãy lạc quan.

 Lúc Jane Eyre còn trẻ, cô có khuynh hướng tội nghiệp bản thân mình. Và cô đã tội
nghiệp mình rất nhiều! Cuộc sống của cô rất khốn khổ. Nhưng khi lớn tuổi hơn, cô
bắt đầu nhận thấy trong cái rủi vẫn có cái may. Cô học cách sống hạnh phúc bất
kể quá khứ của mình. Thậm chí cô còn thuật lại rằng lúc còn nhỏ, “ngay cả với
tôi, cuộc sống cũng có những tia nắng yếu ớt.”

6. Đừng bao giờ để bất cứ ai nói bạn không thể làm được việc chỉ vì bạn là phụ 
nữ.

 Hãy đọc đoạn văn tuyệt vời sau và để nó truyền cảm hứng cho bạn. Hãy nhớ rằng
cuốn tiểu thuyết này được phát hành vào năm 1847 nhé! “Nói chung, phụ nữ được
cho là rất yên ả: nhưng cảm nhận của phụ nữ cũng giống như của nam giới; họ cần
rèn luyện khả năng của mình, họ cần một lĩnh vực để thể hiện những nỗ lực của
mình, cũng nhiều không kém như những đồng nghiệp của họ; họ bị kềm hãm quá đỗi
khắt khe, chịu đựng tình trạng tù hãm tuyệt đối, giống hệt như những gì nam giới
phải chịu; và chính sự thiển cận trong suy nghĩ của những con người cùng thời có
đặc quyền đặc lợi hơn đã cho rằng họ buộc phải giam hãm bản thân trong những
công việc làm bánh, đan lát, chơi đàn và thêu thùa. Thật khinh xuất khi chỉ
trích họ hay cười nhạo họ trong trường hợp họ làm nhiều hơn hay học hỏi nhiều
hơn cái tập tục được tuyên bố là cần thiết cho giới tính của họ.”

7. Bạn mạnh mẽ hơn bạn tưởng.

 Vẫn còn có một ý kiến sáng suốt khác nữa của Helen: “Ngay cả trong trường hợp
cậu không thể né tránh được nó, nó chắc chắn vẫn là nghĩa vụ cậu phải gánh vác:
sẽ thật là thiếu trách nhiệm và thiếu nghị lực khi nói rằng cậu không thể gánh
vác những gì mà định mệnh của cậu bắt cậu phải gánh vác.” Cho dù có chuyện gì
xảy ra với bạn đi nữa, bạn sẽ tìm thấy cách vượt qua; vì là con người, chúng ta
dẻo dai, chúng ta sẽ hồi phục.

8. “Vẻ đẹp trong con mắt người nhìn” là chính xác nhất.

 Theo những chuẩn mực thông thường, Jane Eyre không phải là một phụ nữ đẹp. Và
Rochester cũng chẳng đẹp trai. Brontë rất thực tế: cuộc đời đối với Jane sẽ khó
khăn hơn bởi cô không quyến rũ. Nhưng Brontë đang chỉ trích nền văn hóa thời
Victoria vì đã đặt ra quá nhiều giá trị về nhan sắc. Jane là một con người khiến
mọi người sửng sốt, cho dù cô có đẹp hay không. Đây cũng là một luận điểm thú vị
đánh vào thói hay chỉ trích người khác. Bạn sẽ là một người hạnh phúc hơn nếu
bạn đừng quan tâm quá nhiều tới diện mạo (điều này tôi biết nói bao giờ cũng dễ
hơn làm).

9. Với những người mạo hiểm, khả năng có thể xảy ra trong đời là vô tận.

 Jane viết, “tôi ghi nhớ rằng thế giới thực rất rộng lớn và là nơi chứa rất nhiều
niềm hy vọng và nỗi sợ hãi, cảm giác và niềm hứng khởi, nó chờ đợi những ai có
dũng khí tiến về phía trước, bước vào cõi rộng lớn của nó kiếm tìm kiến thức
thực sự trong đời ở giữa những mối hiểm nguy.” Nếu như Jane không dũng cảm, cô
có thể đã trở về với bà cô độc ác và không bao giờ tìm được bất cứ thứ gì tốt
đẹp hơn cho chính bản thân mình.

10. Đừng e ngại nói ra những suy nghĩ của mình.

 Jane Eyre không phải loại người nhút nhát. Cô đương đầu với bà cô độc ác, người
đối xử tệ bạc với cô. Cô đối mặt với Rochester sau khi phát hiện ra ông đã có
hôn thú với một người khác. Ở thời điểm sống tách biệt với Rochester, cô từ chối
lời cầu hôn của một người đàn ông khác. Cô không ngại nói ra những suy nghĩ của
mình khi cần thiết. Thỉnh thoảng đối mặt chính là chìa khóa cho việc buông bỏ.
Nói ra những chuyện cần phải nói tốt hơn rất nhiều so với việc giấu đi và không
bày tỏ niềm oán giận. Nói ra rõ ràng rằng cũng có thể hàn gắn được những mối
quan hệ tình cảm (ví như trường hợp của Rochester).

11. Hãy chỉ kết hôn vì tình yêu.

 Sau khi rời bỏ Rochester, Jane Eyre được ngỏ lời cầu hôn và cô đã từ chối. Không
phải vì cô cho rằng đó là một người đàn ông không tốt hay không tử tế. Mà bởi cô
nghĩ không nên kết hôn vì một điều gì khác ngoài tình yêu đích thực. Cô thà ở
một mình còn hơn cưới một ai đó không phải người tri kỷ. Cô nói, “… tôi không
muốn một người xa lạ – không có sự đồng cảm, trái ngược, khác biệt với mình; tôi
cần người tri kỷ với mình: người mà tôi đồng cảm hoàn toàn.”




 Làm Phật Tử nhỏ trong một ngôi chùa lớn


Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

 Mới tập viết blog chơi, mình thấy cũng không khó lắm, còn tập ghép ảnh bằng Photoshop CS6 thì mình thấy khó quá chắc là không hợp với cái môn này rồi.


PHÂN TÂM HỌC LÀ GÌ ?

 PHÂN TÂM HỌC CỔ ĐIỂN
                                             
 Sigmund Freud là cha đẻ của phân tâm cổ điển, ông sinh ngày 6 tháng 5 năm 1856, ở Freiburg, một thị xã  nhỏ ở Moravia, hiện nay là phần thuộc cộng hoà Czech. Khi Freud lên 4 tuổi, cha ông là một thợ máy  người  Do Thái  , đưa gia đình đến Vienna,  Freud đã sống hầu hết thời gian ở đây.Theo học trường y khoa, ông chuyên về thần kinh học và đã học một năm tại Paris với Jean-Martin Charcot, ông chịu ảnh hưởng bởi Ambroise-August Liebault và Hippolyte-Marie Bernheim, cả hai đều dạy ông thôi miên khi ông ở Pháp. Sau khi học tập ở Pháp, ông quay trở về Vienna và bắt đầu công việc lâm sàng với những bệnh nhân Hysteria. Vào khoảng từ năm 1887 đến 1897, công việc của ông với những bệnh nhân này dẫn đến việc phát triển phân tâm học. Ông chết năm 1939 tại Luân Đôn.

 Theo ông, nhân cách con người được xây dựng qua sự tương tác phức hợp giữa các xung năng (driven) với những kinh nghiệm thời niên thiếu của họ. Hành vi của con người là kết quả của cách nuôi dạy, đối xử của bố mẹ khi họ còn ở thời tuổi nhỏ đặc biệt trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời. Trong lý thuyết của ông, con người tiếp tục thỏa mãn những mong muốn của họ theo cách mà họ tương tác với người khác trong quá khứ hay cách mà họ thỏa mãn những mong muốn của mình thời thơ ấu.

  Những vấn đề quan trọng được đề cập tới trong lý thuyết của Sigmund Freud đó là bản năng, vô thức, cấu trúc nhân cách, cơ chế tự vệ.

 Bản năng:

Ông cho rằng con người được sinh ra với những bản năng thuộc về vô thức. Nó bao gồm các bản năng sống và bản năng chết.
-         Bản năng sống: là sự đói khát, tình dục.
-         Bản năng chết: là những bản năng hướng tới sự phá bỏ, tiêu diệt cuộc sống. Những hành vi gây thương tích, tự hủy hoại bản thân ở con người. Những hành vi hung tính, sự nóng giận cũng là bản năng chết của con người.

 Cấu trúc nhân cách :

S. Freud cho rằng cấu trúc của nhân cách gồm có 3 cấu thành, đó là cái Nó (Id), cái tôi (Ego) và cái siêu tôi (Super Ego). Các cấu trúc này được hình thành và phát triển dần tới khi con người được 5 tuổi.

-   Cái ấy (id) : Hệ thống này bao gồm các bản năng vô thức và thúc đẩy con người thỏa mãn những mong muốn mà không tính tới các nguyên tắc và các quy định của xã hội.
-   Cái tôi (ego) : được hoạt động, điều chỉnh (kiểm soát) bởi thực tiễn thế giới xung quanh.
-   Cái siêu tôi (superego) : bao gồm ý thức và đạo đức.

    Cả ba cấu thành trên được tập hợp trong một con người và chúng quy định ảnh hưởng lẫn nhau. Cái nó hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn. Cái tôi hoạt động theo nguyên tắc thực tiễn và cái siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt.

Sự mâu thuẫn tồn tại giữa cái Ấy và cái Siêu tôi dễ làm con người rơi vào tình trạng căng thẳng. Để giúp cho con người có thể thoát khỏi tình trạng này, S.Freud cho rằng cần có những cơ chế tự vệ để bảo đảm tạo ra sự cân bằng trong tâm lý của con người.

Các cơ chế tự vệ :

-   Sự dồn nén: kiềm chế những lo lắng lại, che giấu không để lộ ra ngoài.
-   Sự phóng chiếu: chuyển những cảm xúc của mình lên người khác.(tâm sự)
-   Sự chối bỏ: từ chối, ví dụ không chấp nhận những lo lắng sợ hãi đang tồn tại trong bản than.
-   Sự thoái bộ: thoái lui về giai đoạn trước, có những hành vi thuộc lứa tuổi trước đó ( hiện tượng trẻ con hóa).
-   Sự tạo lập hành động (phản ứng): chuyển những cảm xúc ví dụ lo âu thành hành động. ( Lo về kết quả học tập – học bài ).
-    Sự phá bỏ: chuyển những cảm xúc lo âu thành sự hung dữ. ( Lo về kết quả học tập – đi uống rượu)
-    Sự thăng hoa: chuyển lo âu, sợ hãi thành các sản phẩm có ích cho xã hội. ( Ví dụ: nhà thơ Xuân Diệu chuyển cảm xúc thất tình thành thơ)
-    Sự mơ mộng : thỏa mãn những mong muốn trong giấc mơ.

Quá trình phát triển nhân cách :

 S. Freud cho rằng tâm lý con người phát triển qua các giai đoạn khác nhau sau đây :

- Giai đoạn môi miệng (oral stage): từ khi sinh ra cho đến 1.5 tuổi. Sự thỏa mãn được thự hiện qua ăn uống, mút, bú mẹ. Nếu đứa trẻ trong thời kỳ này không được thỏa mãn nhu cầu này, thì nó sẽ có những cảm giác tiêu cực như tự ti, lo âu về sự an toàn vào những giai đoạn sau của cuộc đời.
- Giai đoạn hậu môn (anal stage): từ 1.5 – 3 tuổi. Sự thỏa mãn được thực hiện qua sự đi đại tiện, tiểu tiện. Thời kỳ này trẻ bắt đầu học cách kiểm soát cơ thể và môi trường xung quanh qua việc hướng dẫn của cha mẹ, việc quy định vệ sinh và các hoạt động giáo dục khác.
- Giai đoạn dương vật (phallic stage): từ 3 – 5 tuổi. Trong giai đoạn này có 3 mặt phát triển chính: hứng thú tình dục, phát triển của siêu tôi, mở rộng  phạm vi quá trình bảo vệ cái tôi.
- Giai đoạn tiềm ẩn (latance stage): từ 5 tuổi trở lên đến tuổi vị thành niên. Khi này trẻ học cách thăng hoa tình yêu đối với bố mẹ, nó được thể hiện bằng sự tôn kính.
- Giai đoạn cơ quan sinh dục ngoài (genital stage): là giai đoạn tuổi thanh niên và sang tuổi trưởng thành, khi này cá nhân đã có thể nhận thức và ý thức hành vi ở người lớn.

Các kỹ thuật can thiệp :

-   Phân tích sự chuyển dịch :
 Sự chuyển dịch là quá trình những cảm xúc xung đột của thân chủ với người nào đó trong quá khứ (ví dụ như: cha, mẹ, người yêu..) được thể hiện ra với nhà tham vấn.
Để xử lý những tình huống chuyển dịch, trước hết nhà tham vấn cần nhân biết và giúp thân chủ nhân thức được hiện tượng này. Bằng những câu nói hay câu hỏi đưa ra thông tin cho thân chủ biết liệu họ có đang đánh đồng mình với một nhân vật nào đó không.
Trong quá trình tham vấn, cũng có hiện tượng khi nhà tham vấn chuyển tải những cảm xúc của mình đối với một nhân vật nào đó trong quá khứ lên thân chủ. Đây được xem như quá trình chuyển dịch ngược
Một trong những cách xử lý là nhà tham vấn có thể chia sẻ với đồng nghiệp xin tư vấn hoặc có thể chuyển giao ca tham vấn sang nhà tham vấn khác trong trường hợp nhà tham vấn không kiểm soát được cảm xúc, tình cảm  của mình.

-   Phân tích giấc mơ: theo S.freud thì giấc mơ không chỉ có chức năng sinh lý mà nó còn có một chức năng tâm lý vô cùng quan trọng, bởi nó giúp người ta giải tỏa được những căng thẳng thần kinh qua việc thỏa mãn những mong muốn của cá nhân trong khi mơ mà những mong muốn đó không được thực hiện trong thực tiễn.
-   Liên tưởng tự do : khuyến khích thân chủ thổ lộ, chia sẻ. Nhiệm vụ của nhà tham vấn là lắng nghe tích cực tất cả mọi điều, mọi chi tiết mà thân chủ chia sẻ dù là rất nhỏ nhặt và bám theo dấu vết của những liên tưởng này đến liên tưởng khác để tìm được cội nguồn của chúng
-   Nhạy cảm với những phản kháng/chống đối từ phía thân chủ: Sự chống đối của thân chủ thể hiện ở những hành vi như từ chối không thảo luận về một vấn đề nào đó, im lặng, quên, tỏ ra khó khăn trong trình bày bằng lời nói. Đôi khi sự phản ứng còn được biểu hiện qua hành vi hung dữ. Khi này có thể vấn đề thân chủ đang thảo luận đã động chạm đên cảm xúc đau đớn mà họ trải nghiệm trong quá khứ - Cần phải giúp họ thoát khỏi tình trạng đau đớn, lo âu.

 Sigmund Freud được thế giới công nhận là một vĩ nhân của thế kỹ 20, người đã có công lớn ra đời bộ môn Phân tâm học (Psychoanalysis). Hiện nay phân tâm học được áp dụng trong rất nhiều lĩnh vực xã hôi như : y học (tâm thần học), phê bình văn học, ngành sư phạm phân tích tâm lý trẻ em, triết học tôn giáo, ngành An ninh nhân dân cũng ứng dụng để tìm hiểu khác thác tâm lý tội phạm ...
                         
                                                          - Nguồn Đại Học Khoa Học Xã Hội Nhân Văn Tp.HCM -

 Sigmund Freud và con gái là Anna Freud


Sách về môn Phân tâm học được xuất bản rất nhiều :